Emmanuel Carrère và cái bóng của mẹ
Viết để đối diện, viết để tiễn biệt
(Dịch từ tuần báo Le Nouvel Obs, 21.08.2025. Bài: Grégoire Leménager)
Ngày 24 tháng 2 năm 2022, Emmanuel Carrère lẽ ra phải bay sang Matxcơva lúc 11 giờ sáng. Giữa hai phiên xử vụ khủng bố 13 tháng Mười Một (vụ tấn công Paris 2015) mà ông tường thuật cho Le Nouvel Obs năm đó, ông định dành cuối tuần ghé qua trường quay của bộ phim chuyển thể từ cuốn sách Limonov của mình. Đạo diễn Kirill Serebrennikov1 đang chờ. Mọi việc đã được thu xếp xong xuôi. Nhưng Carrère đã không lên máy bay. Quân đội của Vladimir Putin vừa tràn vào Ukraine lúc rạng sáng. Lịch sử, với lưỡi rìu đẫm máu của nó, bất ngờ trở lại châu Âu. Bàng hoàng lan rộng, sự thận trọng trở thành lựa chọn bắt buộc. Thế nhưng, ngay chiều hôm đó, ông gọi điện cho tòa soạn: “Alô, Emmanuel đây. Đại diện của tôi khuyên nên ở lại Pháp, nhưng cuối cùng tôi sẽ bay chuyến khác. Một đất nước đang rơi vào chiến tranh, ắt phải có người kể lại.”
Cái cuối tuần Matxcơva của ông kéo dài mười ngày. Carrère đã ghi lại trải nghiệm này trong một phóng sự tuyệt vời, lập tức được dịch và đăng trên những tờ báo lớn khắp châu Âu. Ba năm rưỡi sau, ông kể lại hậu trường câu chuyện ấy trong Kolkhoze. Và Kolkhoze, phải nói thẳng, là một cuốn sách bậc thầy. Đó là tác phẩm của một người kể chuyện tài hoa ở đỉnh cao, biết lách, biết rẽ, biết luận bàn với một sự tự nhiên cuốn hút, để khiến tác phẩm của mình giống như một bản giao hưởng với nhiều chương mục đối thoại, bổ sung, và ngân nga lẫn nhau.
Carrère còn lồng ghép những phóng sự khác đầy ám ảnh ở Ukraine và Gruzia, để khắc họa sự trỗi dậy của chủ nghĩa đế quốc Nga khiến tất cả chúng ta lạnh sống lưng. Nhưng không chỉ có vậy. “Nước Nga, với tất cả điều hay dở, là chuyện gia đình tôi”, Carrère viết, rồi kể câu chuyện của gia đình mình suốt hơn một thế kỷ. Và đó quả là một gia đình đặc biệt! “Phải làm việc với nguyên liệu sẵn có”, Lênin từng nói trong một câu được Carrère thích trích dẫn. Nếu nhiều nhà văn ngày nay cũng viết về tổ tiên mình, hiếm ai có được một “nguyên liệu” đậm chất tiểu thuyết như tác giả Un roman russe: những quý tộc Sa hoàng từng cực kỳ giàu có cho đến Cách mạng 1917; những nhà dân chủ Gruzia từng tin rằng họ thoát khỏi ách thống trị Matxcơva năm 1918, rồi buộc phải bỏ chạy khi Hồng quân tiến vào năm 1921; một người chị họ cho tới tận mùa thu năm ngoái vẫn còn giữ chức Tổng thống Gruzia. Và trên hết, một người mẹ, nhà sử học Hélène Carrère d’Encausse, sinh ra trong một gia đình nhập cư nghèo, nhưng trở thành hiện thân, qua cuộc đời và tác phẩm, cho tất cả những gì vĩ đại và bi thảm, mạnh mẽ và ám ảnh, huy hoàng và khủng khiếp mà nước Nga có thể mang lại.
Hélène Carrère d’Encausse qua đời ngày 5 tháng 8 năm 2023, hưởng thọ 94 tuổi. Bà là một nhân vật lạ thường, phi chuẩn: mất cha ngay sau ngày giải phóng nước Pháp, từng đặt hoa trên mộ nhà văn hợp tác với phát xít Brasillach2, dự báo sự sụp đổ của Liên Xô, giữ ghế Thư ký trọn đời của Viện Hàn lâm Pháp, gặp gỡ và ngưỡng mộ Putin. Con trai bà kể lại tất cả, nhưng cũng kể về người phụ nữ đằng sau danh hiệu “bất tử” mà Emmanuel Macron đã ca ngợi trong quốc tang: sự thăng tiến không thể cưỡng lại, lòng dũng cảm và trí tuệ, tình mẫu tử dịu dàng với các con khi họ còn nhỏ và cùng “chơi làm kolkhoze”3 bằng cách ngủ chung một phòng; nhưng cũng cả những khoảng tối, những lời dối trá, sự chuyên chế bà trở thành đối với người chồng. Vinh quang của người mẹ và nỗi bất hạnh của người cha – một hiệu ứng khác của chủ nghĩa đế quốc Nga, có lẽ là như vậy.
Song song với Kolkhoze, Emmanuel Carrère cũng tập hợp lại ba tác phẩm lớn trong Vers le réel II: Je suis vivant et vous êtes morts (tiểu luận-tiểu sử về nhà văn khoa học giả tưởng Philip K. Dick); Limonov (viết về số phận nhà văn, chính trị gia Nga gây tranh cãi Edouard Limonov); và Le Royaume – có thể xem như một tiểu sử của Thánh Luca, chính ông thánh này cũng là người viết tiểu sử về Chúa Kitô. Ba chân dung văn học lớn, được đặt trước bởi một bài viết hấp dẫn cùng tư liệu hình ảnh phong phú, nơi Carrère định nghĩa “câu hỏi lớn” của mình: “mối quan hệ độc nhất vô nhị giữa họa sĩ và người mẫu”. Với Kolkhoze, cùng loạt chân dung phi thường, nổi bật nhất là cặp đôi kỳ lạ (chính là cha mẹ ông), “câu hỏi lớn” này lại hiện ra theo một cách đặc biệt tinh tế. Theo mọi nghĩa của từ ấy, la grande question.
Grégoire Leménager: “Kolkhoze” ra đời thế nào? Cuốn sách của ông dường như có hai trọng tâm: một cơn địa chấn địa chính trị (cuộc xâm lược Ukraine) và một cơn địa chấn riêng tư (cái chết của cha mẹ ông chỉ cách nhau vài tháng).
Emmanuel Carrère: Đúng thế. Từ lúc chiến tranh bắt đầu và tôi có mặt ở Matxcơva, Ukraine đã ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Nhưng chưa bao giờ tôi theo dõi một biến cố nào với nhiều sốt sắng và chú tâm đến vậy. Một gương mặt của nước Nga mà trước đó, có lẽ hơi ngây thơ, tôi không nhìn thấy, nay hiện ra: một gương mặt dữ tợn thực sự. Và điều đó khiến tôi chao đảo, bởi nó cũng gắn với một thực tại rất riêng tư. Tôi đã viết phóng sự cho Le Nouvel Obs và tạp chí Kometa. Phóng sự là một nguồn nhiên liệu tốt, giúp tôi bước tiếp trong khi chờ một cuốn sách thành hình. Tôi đã đi nhiều lần sang Ukraine, rồi sang cả Gruzia, thật lạ lùng là nơi tôi chưa từng đặt chân đến. Ban đầu, tôi định viết một cuốn sách du ký về các quốc gia giáp ranh nước Nga, nhưng cuối cùng tôi lại không đến Belarus chẳng hạn.
Cái chết của mẹ ông, bà Hélène Carrère d’Encausse (nhà sử học về nước Nga, với cha người Gruzia và mẹ người Nga) vào ngày 5 tháng 8 năm 2023, diễn ra trong bối cảnh đó…
Cái chết đến rất nhanh. Mười ngày trước đó, bà nói với tôi: “Mẹ không muốn làm hỏng kỳ nghỉ của con, nhưng có lẽ con nên biết…” Điều tôi được biết là bà mắc ung thư và bước vào giai đoạn chăm sóc cuối đời. Trong mười ngày đó, tôi ghi chép lại, không chút áy náy, một phần cũng vì tôi cảm phục nữa. Mẹ tôi đã có cái chết đẹp, kiểu La Mã, một cái chết khiến ta có cảm giác nó tôn vinh cả cuộc đời. Như thể mọi thứ đều được bao phủ bởi một vẻ cao cả, kể cả những khuyết điểm vốn rất rõ của bà. Sự ngưỡng mộ làm dịu đi nỗi buồn. Tôi viết một thiên truyện khoảng sáu mươi trang trong sách. Và tất cả những gì liên quan đến nước Nga lại nổi lên, lần này một cách vô cùng thân mật.
Vai trò của cha ông khi đó là gì?
Giữa cái chết của mẹ và cái chết của cha, chúng tôi thu dọn đồ đạc của họ và tôi tìm thấy những hồ sơ gia phả. Tôi có cảm giác cha tôi để lại cho tôi một báu vật. Đó là câu chuyện của gia đình, chủ yếu là gia đình bên ngoại, vốn hấp dẫn ông hơn nhiều so với gốc gác Béarn (Pháp) bên nội. Và điều cha tôi thật sự say mê là nhánh Nga – giàu có, quý tộc – của bà ngoại tôi. Cha tôi vốn rất là… hợm mình.
Có vẻ ông chịu cú sốc nặng nề hơn vì cái chết của cha?
Cái chết của cha mẹ khi họ đã ngoài 90 tuổi là điều ta nhìn thấy từ trước. Nhưng cha tôi, dù đã “mòn đi”, vẫn khỏe mạnh; cả cha mẹ tôi chưa từng phải nằm viện. Thế mà cái chết của ông, lạ thay, lại khiến tôi ngã quỵ hơn là cái chết của mẹ. Mẹ tôi luôn hiện diện như một nhân vật quan trọng hơn trong đời tôi. Nhưng cái chết của cha bỗng làm lộ ra một khoảng trống. Ông luôn đứng ở hậu cảnh, có lẽ vì thế mà sự ra đi của ông đánh tôi mạnh đến vậy.
Chính công trình của ông ấy đã cho phép ông viết nên một saga gia đình kéo dài hơn một thế kỷ. Đó có phải là điều ông gọi là “chiều dọc của đời sống”, đối lập với “chiều ngang”, tức tình yêu và tình bạn?
Đúng, tôi đã ở vào tuổi phải ngoái nhìn lại. Mà đời tôi thì tôi kể nhiều rồi… Lần này, đó là những gì đi trước tôi. Cuốn sách nói về tuổi trẻ, về những gì tôi viết, về trí nhớ của tôi từng bị phá hủy bởi sốc điện. Nhưng nói thật, tôi cũng từng… xâm lấn hơn thế!
Saga này cũng kể lại cơn địa chấn cách mạng Nga: tổ tiên ông từng sở hữu điền trang khổng lồ, có nông nô; còn bà cố của ông thì lớn lên ở Florence với “sáu gia sư đủ quốc tịch” trong “một biệt thự từng thuộc dòng họ Medici”…
Tất cả đều đúng. Thậm chí có một chi tiết ngộ nghĩnh: cha mẹ tôi đã lấy tên những căn điền trang ấy đặt cho một căn lều nhỏ ở Biarritz, rồi một ngôi nhà ở đảo Ré. Việc kể về tổ tiên là phần kỹ thuật khó nhất. Tôi không muốn dội lên độc giả ngay từ đầu những cái tên như Nikita Panine hay Olga Komarovsky… Nhưng có một người tôi đặc biệt thích, “kẻ phiêu lưu”. Trong khi phần lớn đều là sĩ quan “salon”, thì ông ta đi qua mọi cuộc chiến. Dĩ nhiên là chiến tranh thuộc địa, nhưng tôi thấy ông ta đáng mến. Với bà ngoại tôi, có lẽ ông giống một Indiana Jones. Ông chết khi bị “bọn đỏ” ném xuống giếng. Còn bà ngoại tôi, sau tuổi thơ trong biệt thự lộng lẫy ở Toscana, đến 22 tuổi thì tay trắng, cô đơn giữa Paris. Và mẹ bà chết trong cảnh khốn cùng ở Berlin, xác vùi trong mộ tập thể.
Còn cụ cố người Gruzia của ông thì sống trong một đất nước bị Nga đô hộ. Từ đâu mà ông có sự trìu mến dành cho họ?
À, Vano và Nino Zourabichvili! Đó là một cặp trí thức, từng dịch George Sand và Anatole France. Không giàu có nhưng thuộc giới tinh hoa trí thức, và trong ba năm ngắn ngủi độc lập (1918-1921), họ đã ban hành bản Hiến pháp duy nhất ở châu Âu khi ấy trao quyền bầu cử cho phụ nữ. Họ là những người xã hội dân chủ, phe Menshevik. Khi Liên Xô tràn vào năm 1921, họ buộc phải lưu vong sang Constantinople rồi Paris. Cụ ông làm việc trong tầng hầm cửa hàng Bon Marché… Tôi thấy họ đáng kính và gây cảm động hơn nhiều so với các cụ tổ tiên Nga gốc của tôi, bản thân họ thường bị định nghĩa nhiều bởi tầng lớp hay đẳng cấp.
Mười tám năm sau “Un roman russe” (Một tiểu thuyết Nga), ông quay lại với câu chuyện về Georges – ông ngoại, bị nghi hợp tác với phát xít rồi biến mất trong ngày Giải phóng. Một chủ đề mà mẹ ông từng cấm ông động đến…
Bí mật này rõ ràng đã định hình mẹ tôi. Sau Un roman russe, chúng tôi đã có ít nhất hai năm không nói chuyện với nhau… Nhưng rồi mọi thứ lắng xuống như thường thấy trong gia đình tôi: chẳng có giải thích gì to tát. Chỉ có một ngày, rất lạ lùng, giữa lúc đi ngang nhau, mẹ tôi nói: “Mẹ nghĩ con đã làm đúng khi viết cuốn sách ấy.” Bà không bao giờ nhắc lại nữa. Tôi tin rằng điều đó đã giải thoát bà. Suốt đời, bà luôn sợ lưỡi gươm Damocles ấy giáng xuống4. Với Un roman russe, lưỡi gương đã rót xuống. Và chẳng có điều gì khủng khiếp xảy ra. Không ai quay lưng với bà. Tận sâu thẳm, cô gái trẻ mà bà từng là, cô ta vẫn sống mãi trong nỗi sợ bị xã hội ruồng bỏ… Ở đây, tôi thử kể lại câu chuyện ông ngoại bằng khoảng cách trìu mến hơn, nhất là khi có một yếu tố mới: tôi bắt đầu quen dần với việc mình được chẩn đoán mắc rối loạn lưỡng cực. Đọc thư ông, dấu hiệu ấy rõ rành rành.
Một phần cuốn sách có thể mang tên “Một tiểu thuyết Gruzia”, vì ở đó ông kể lại việc phát hiện muộn màng về một phần gốc gác của mình… Làm sao giải thích sự lãng quên đó trong gia đình ông?
Ông ngoại tôi, vẫn là ông, đã cưới một nữ quý tộc Nga và đồng nhất mình với nền văn hóa ấy bằng một kiểu tự ti rất đặc trưng ở ông. Ông chưa bao giờ nói tiếng Gruzia với mẹ và cậu tôi, cả hai đều được nuôi dạy bằng tiếng Nga. Trong khi bên phía chị họ tôi, Salomé Zourabichvili5, lại nói tiếng Gruzia và không một chữ tiếng Nga. Thật đáng ngạc nhiên: mẹ tôi và Salomé là chị em họ, cả hai đều lớn lên ở Paris, các gia đình cũng rất hòa hợp. Nhưng mẹ tôi lại nhìn người Gruzia bằng một tình cảm pha chút bề trên, như thể họ chỉ là một dân tộc nhỏ mang màu sắc “du lịch sinh thái”. Họ uống rượu, nâng ly chúc tụng, trông chẳng khác nào ngôi làng của Astérix… Và họ hàng bên phía Gruzia, dù rất tự hào về thành công của mẹ tôi, vẫn hơi khó chịu với cái chất “đại Nga” nơi bà. Còn tôi, tôi chỉ quan tâm đến chuyện ấy rất muộn. Và khi Salomé trở thành Tổng thống Cộng hòa Gruzia, mọi việc lại càng lạ lùng.
Người chị họ này, Salomé Zourabichvili, vừa trao lại quyền lực cho phe thân Nga. Bà ấy nhìn nhận tương lai đất nước thế nào?
Cách đây vài tháng, bà ấy vẫn còn có thể tự nhủ rằng đất nước đang đi theo hướng dân chủ. Nhưng giờ bà rất lo lắng. Gruzia đang trở thành một Belarus thu nhỏ với phong khí ôn hòa hơn… Nếu người Gruzia cứ ngoan ngoãn, họ sẽ có thể sống một cuộc sống tương đối yên ổn. Nhưng sẽ không có Gay Pride, chẳng hạn… Chỉ với điều kiện như thế họ mới được yên thân. Các cuộc biểu tình tôi chứng kiến cuối năm 2024 đã giảm dần, những người cuối cùng còn tham gia bị bắt, bị phạt số tiền tương đương hai tháng lương. Tôi nghĩ rằng Gruzia đã xong xuôi rồi. Họ đã rơi trở lại vào quỹ đạo của Nga. Và chẳng cần xe tăng Matxcơva kéo tới. Chỉ cần chính quyền nói: “Các người muốn nó trở thành như Ukraine à? Hãy chọn phe hòa bình, tức là chọn Nga.”
Ông cũng nói rất nhiều về Ukraine, với “những lý do chính đáng để lo sợ rằng mọi chuyện sẽ kết thúc bằng một cuộc nội chiến”…
Có thể là tôi nói quá, nhưng tôi đã đến đó nhiều lần và thấy những hố ngăn cách đang đào sâu: giữa những người cầm súng và những người không cầm súng, những người ở lại và những người bỏ đi… Tôi không muốn làm nhà tiên tri địa chính trị, xã hội Ukraine vẫn còn khá hừng hực khí thế, nhưng tôi e rằng họ đang hướng đến những chia rẽ rất khốc liệt. Tôi đã làm một bộ phim ngắn trên các chuyến tàu giữa Kiev và các thành phố gần tiền tuyến6. Chúng tôi trò chuyện với binh sĩ, với phụ nữ… Người ta cảm nhận được sự kiệt quệ khi sống trong chiến tranh. Thật khủng khiếp.
Theo ông, người Nga nghĩ gì? Ông từng đến Nga nhiều lần, cho đến tháng Hai năm 2022…
Tôi chưa quay lại. Tôi đã từng muốn đi, thậm chí đã xin được visa một năm. Nhưng rồi tôi không dùng đến.
Ông sợ ư?
Có. Tôi không phải là kẻ nhát gan hay hoang tưởng, nhưng ở Nga, người ta có thể bị tống vào tù một cách hoàn toàn tùy tiện. Và nổi tiếng chưa chắc là lá chắn; đôi khi như vậy còn nguy hiểm hơn. Thực lòng, tôi từng nghĩ: hai tuần trong tù ở Nga sẽ là một phóng sự tuyệt vời! Nhưng nếu kéo dài hai năm thì đâu còn thú vị. Laurent Vinatier, một người Pháp rất đáng kính, làm việc cho NGO Thụy Sĩ, vừa bị kết án ba năm tù vì không tự khai là “đặc vụ nước ngoài”… Còn việc người Nga nghĩ gì thì rất mù mờ. Thăm dò dư luận chẳng có giá trị. Điều tôi cảm nhận được, và điều đó thật sự gây rối trí, là chiến tranh hóa ra lại không phải là một việc quá tệ. Đất nước dường như vẫn vận hành, gia đình lính tử trận được bồi thường khá hậu hĩnh, người nghèo vốn quen với nghèo… Và Putin dựa vào đó để nói: “Thời gian đứng về phía tôi, chính các người sẽ là những kẻ chán nản trước tiên.”
Cuốn sách của ông cũng nhắc đến “niềm ngưỡng mộ” của mẹ ông dành cho Putin, bà đã nhiều lần gặp. Ông có tranh luận với bà về chủ đề này?
Tôi từng thảo luận với bà. Nhưng phải phân biệt hai giai đoạn. Trước chiến tranh Ukraine, mẹ tôi rất ủng hộ Putin. Tôi nhắc đến số phận bi thảm của nhà báo Anna Politkovskaïa7 hay của nhà đối lập Boris Nemtsov8 nhưng bà chỉ đáp: chẳng ai hoàn hảo cả; bà không phải lúc nào cũng thấy Putin tuyệt vời, nhưng ít ra ông ta biết cách giữ cho nước Nga ổn định. Bà có một cái nhìn theo kiểu realpolitik, dựa trên quan niệm “đại Nga” mà, nói thẳng, tôi cũng phần nào chia sẻ và tôi không phải người duy nhất. Nabokov đã tóm gọn điều đó trong cuốn Nicolas Gogol phi thường của ông: “Khi tôi muốn một cơn ác mộng thật hay, tôi tưởng tượng Gogol viết bằng tiếng Ukraine những câu chuyện về các kỵ sĩ Cossack oai phong.”9 Bởi đúng là Cái mũi, Chiếc áo khoác hay Những linh hồn chết viết bằng tiếng Nga thì khác hẳn Những buổi chiều ở làng Dikanka10… Với Nabokov, văn hóa Ukraine chỉ là một thứ văn hóa dân gian nhỏ bé. Và đó cũng là điều mẹ tôi ít nhiều tin vào. Bà cũng nghĩ tương tự về văn hóa Gruzia…
Ngày nay, ở Ukraine, tôi lại thấy một diễn ngôn đối xứng. Người Ukraine hiện có đầy đủ lý do, nên đây không phải lúc tranh luận, nhưng họ nói: “Tại sao tôi phải nghe Tchaikovsky hay Rachmaninov khi chúng tôi có những nhà soạn nhạc Ukraine tuyệt vời?” Rồi họ nêu tên một người, bạn tìm thấy ngay trên Deezer hay Spotify, và thực lòng mà nói, đó chỉ là bản sao hạng hai của Shostakovich. Điều này đặt ra câu hỏi về những nền văn hóa từng bị đẩy xuống thành thứ yếu chính tại các quốc gia bị đô hộ.
Và mẹ ông đã phản ứng thế nào sau cuộc xâm lược Ukraine?
Vì bà, theo cách vô tội, vốn mang góc nhìn kiểu đế quốc Nga, nên trong thâm tâm bà nghĩ Ukraine và Nga là một. Nhưng từ cuộc xâm lược năm 2022, bà mới lần đầu tiên bị lung lay. Trước đó không lâu, bà còn khẳng định trong một cuộc phỏng vấn: “Các ông tưởng gì chứ? Putin không điên đâu, ông ta sẽ không xâm lược Ukraine…” Đồng thời, bà thấy người ta làm quá lên, rằng mọi người tâng bốc Zelensky quá mức... Lúc đó, chúng tôi có đôi chút cãi cọ… nhưng tôi thường chỉ nhún vai thay vì mất công tranh luận đến cùng. Thỉnh thoảng, Charline vợ tôi còn bảo: “Anh thiếu tôn trọng bà ấy đấy, khi làm như thể bà là một kẻ ngớ ngẩn để anh buông câu ‘nói nữa cũng vô ích’. Bà là một phụ nữ thông minh! Vậy thì hãy tranh luận với bà đi!” Nhưng tôi chưa bao giờ làm thật sự; tôi luôn bỏ cuộc rất nhanh.
Mẹ ông là nhân vật trung tâm của cuốn sách. Bà là nhân vật phi thường, với số phận một cô gái nhập cư tay trắng, chỉ biết tiếng Nga nhưng cuối cùng lại ngự trị ở Viện Hàn lâm Pháp; và cũng phi thường bởi tính cách bà… Ông không hề nương tay. Ông nói: “Nếu ai hỏi giờ, bà vẫn có khả năng nói dối.”
Sự ngụy biện của bà lớn đến mức nó làm chúng tôi bật cười! Trên Radio Classique, bà có thể thắc mắc bằng phép màu nào bà là người duy nhất trong gia đình thích âm nhạc… trong khi bà chẳng bao giờ nghe nhạc và anh trai, chị dâu, cha mẹ chồng của bà đều là nhạc sĩ chuyên nghiệp… [Cười.] Anh trai bà, vốn có quan hệ khó khăn với bà, đã tóm gọn bằng một câu khủng khiếp: “Hélène không phải là một nhà sử học về Liên Xô, bà là một nhà sử học Liên Xô.”
Ông cho thấy bà nhạy cảm đến mức trước những kẻ quyền lực như Bokassa hay Putin, bà có thể tự làm mù mình chỉ vì họ “đã tỏ ra tử tế với bà”… Bà thật sự ngây thơ đến thế sao?
Thành thật mà nói, là có. Bokassa do tôi bịa ra để giễu nhại, nhưng bà thực sự khao khát được xã hội công nhận và tất cả những dấu hiệu của sự công nhận ấy. Tuy nhiên, bà chưa bao giờ mang dáng dấp một kẻ xu nịnh. Bà yêu thích những người quan trọng, nhưng luôn đối diện ngang hàng với họ. Và bà cũng không hề tỏ ra khinh bỉ với những người được coi là có địa vị thấp hơn. Nhìn chung, bà có nhiều khuyết điểm, dĩ nhiên, ai cũng có cả, nhưng đó không phải là những tiểu tiết nhỏ nhen. Không hề.
Ông cũng nhận được nhiều vinh dự… Ông có nghĩ mình thừa hưởng cùng một kiểu ái kỷ như vậy không?
Có và không. Khát vọng được công nhận là nhà văn, tôi có hoàn toàn. Ở khía cạnh này, tôi có cùng tham vọng với mẹ mình, nhưng nó được dẫn vào thành tựu văn chương. Ngược lại, điều mang tính thể chế lại ít hấp dẫn tôi; chẳng hạn, tôi hoàn toàn không hề muốn vào Viện Hàn lâm. Có lẽ vì mẹ tôi quá ham những hình thức công nhận cổ điển nhất, nên tôi đã được “miễn nhiễm” ngay từ đầu.
Một người bạn từng đưa cho ông một “la bàn” để viết “cuốn sách hay nhất của ông”: “lòng hiếu thảo”. Điều đó có dẫn đường cho ông không?
Tôi không định viết một cuốn thánh truyện; tôi không thể tự hình dung mình nói rằng mẹ tôi là một vị thánh. Nhưng một lần nữa, một bản tường thuật đầu tiên về cái chết của bà đã được viết khi tôi bắt đầu cuốn sách. Vì vậy, với tôi, ánh sáng của cái kết phải soi rọi phần còn lại. Và còn một điểm sáng nữa, đó là tuổi thơ của chúng tôi: nó rất hạnh phúc, với một người mẹ ân cần, dịu dàng, hài hước… Sau đó phức tạp hơn, nhưng tuổi thiếu niên luôn là thời điểm phức tạp.
Đó cũng là thời điểm quan hệ giữa cha mẹ ông suy sụp khủng khiếp. Sau một mối quan hệ ngoài hôn nhân, ông viết, mẹ ông không bao giờ thể hiện chút dịu dàng nào với cha ông nữa, người sống dưới cái bóng của bà…
Bà đối xử với ông rất khắc nghiệt. Tôi chừng mười hai tuổi khi họ bắt đầu ngủ riêng. Điều đó cuối cùng dẫn đến việc, nửa thế kỷ sau, bà gần như ra đi mà không nói lời tạm biệt với ông… Thật không dễ dàng, đối với một đứa trẻ vị thành niên, khi có một người mẹ quá quyền lực và một người cha bị đè nén đến vậy. Tôi luôn có với bà một mối quan hệ phức tạp, đôi khi xung đột dữ dội, và với ông là một thứ tình cảm hơi lơ đãng. Nhưng tôi chia sẻ với cha tình yêu âm nhạc, đó là mối liên kết của chúng tôi. Đặc biệt về cuối đời, tôi thường mở nhạc cho ông nghe. Đó là một trong những cách giao tiếp của tôi với ông.
Mẹ ông thực sự ngăn cha ông chơi piano?
Đúng vậy. Và cuối đời, bà không muốn ông có thẻ tín dụng, như thể điều đó có thể cho ông sự tự chủ… Khi còn trẻ, tôi chịu đựng rất khó khăn kiểu đối xử đó. Tôi đã muốn nói với cha mình: “Trời ạ, đừng để mẹ bắt nạt nữa!” Và ông chỉ đáp: “Nghe này, mẹ con vốn vậy…” Rồi, về sau, những lời khủng khiếp: “Cha đã làm phần nặng nề nhất rồi…”
Ông có nghĩ rằng họ vẫn yêu nhau, dù sao đi nữa?
Với cha tôi thì điều đó hiển nhiên. Ông là người yêu nhiều nhất trong câu chuyện này. Có hai câu thơ của W. H. Auden mà tôi thấy rất đẹp: “Nếu tình yêu phải bất bình đẳng / Xin cho tôi là kẻ yêu nhiều hơn.” 11 Tôi không chắc rằng tôi có thể yêu theo cách ấy, nhưng đó là điều cha tôi đã làm. Ông có lẽ đã bị buộc phải sống như vậy, nhưng thực tế là ông đã dành phần lớn cuộc đời cho tình yêu gần như đơn phương ấy. Và tôi nghĩ ông sẽ không đánh đổi cuộc đời đó để lấy một cuộc đời khác. Nó đã mang lại cho đời ông một chiều kích tiểu thuyết: các gia đình quý tộc Nga càng thêm chất tiểu thuyết bởi họ đã sa sút. Có cái gì đó trong ông không thuộc về tầng lớp tiểu tư sản. Ông đã sống trong một giấc mộng lớn và phải trả giá đắt.
Ông có rút ra bài học nào về một cặp đôi: họ nên hoặc có thể là gì không?
Mẹ tôi có cá tính rất mạnh; cha tôi là một nhân vật kỳ lạ, dễ mến, gắn bó, không tầm thường. Nhưng với tư cách một cặp đôi, họ là một phản-mẫu tuyệt đối, phải nói thế. Tôi nghĩ mình chưa bao giờ lặp lại tình huống ấy, ở bất cứ vai nào. Ngày nay, ít cặp đôi nào chấp nhận sống hơn bảy mươi năm như vậy… Nói thế, quan điểm phân tâm học phổ biến sẽ nói: nếu hai người ở với nhau lâu đến thế, hẳn là họ tìm thấy điều gì đó ở nhau. Quan hệ của họ vặn vẹo, nhưng đó là đời sống của họ. Và tôi nghĩ rằng nếu cha tôi chết trước, mẹ tôi hẳn sẽ suy sụp. Ông ấy lúc nào cũng làm bà khó chịu, nhất là những năm cuối, khi bà trách ông vì đã trở nên yếu đi. Bà thấy điều đó kéo bà vào một đời sống nhỏ hẹp… Nhưng bà cũng sẽ rất khó sống thiếu ông. Đó là một cặp đôi thật sự: cực kỳ phức tạp, cực kỳ phản cảm như một hình mẫu, nhưng vẫn là một cặp đôi. Có lẽ cũng vì thế mà tôi cho phép mình kể lại câu chuyện của họ… Bởi vì đó là một câu chuyện về đôi lứa.
Thực sự, ông đã cho phép mình đi rất xa vào đời sống riêng tư của họ. Ông không thấy như vậy là đưa bí mật gia đình ra công khai sao? Ông ngụ ý rằng mẹ ông đã ngầm cho phép…
Không hẳn thế. Nhưng tôi đã sợ rằng trên giường bệnh, bà sẽ yêu cầu tôi không bao giờ viết về bà. Bà không làm thế, và tôi tin rằng bà đã khá thoải mái với chuyện này… Sau đó, điều rất đau lòng trong cuốn sách chính là câu chuyện hôn nhân dài và khủng khiếp của cha mẹ tôi. Và chắc chắn rằng bà sẽ không vui nếu tôi kể lại.
Năm 2020, ông từng nói trên tờ báo này: “Người ta có quyền phơi bày bản thân, nhưng không có quyền phơi bày người khác.” Ở đây, ông đã phơi bày cha mẹ mình, đúng không?
Đúng, và tôi sẽ không làm thế nếu họ còn sống. Nhưng lạ thay, tôi không cảm thấy chút tội lỗi nào. Như thể tôi cho người đã khuất một sự cởi mở, một lòng khoan dung mà tôi không chắc họ sẽ có khi còn sống… Đúng là một kiểu ngụy biện, một cách “ăn gian” khi nói thế, nhưng tôi buộc phải nghĩ vậy để giải thích tại sao điều đó không làm tôi khó chịu. Và điều kỳ lạ là nó cũng không làm các chị tôi, hay em trai mẹ tôi – tôi đã đưa họ bản thảo đầu tiên – khó chịu. Điều đó làm tôi thấy ngạc nhiên. Các chị tôi vốn là những người giữ gìn hình ảnh gia đình nhiều hơn. Họ rất gắn bó với cha mẹ, cũng như với hình ảnh của họ. Tôi sẽ không xuất bản cuốn sách nếu họ không đồng ý. Họ không yêu cầu tôi thay đổi gì. Sự đồng thuận hoàn toàn của họ giúp tôi nhẹ nhõm rất nhiều.
Ông nói khá bình thản về tất cả những điều này…
Nghe này, đúng, tôi vui vì đã viết cuốn sách này. Nói thì kỳ, nhưng điều đó không phải lúc nào cũng xảy ra. Ví dụ, với Yoga, mối quan hệ của tôi với nó nhiều mâu thuẫn hơn. Ở đây, không có “những con sói” liên quan đến gia đình tôi. Những con sói ở trong Un roman russe…
Sau cùng, cha ông hiện lên như một nhân vật lay động…
Điều khiến tôi ngạc nhiên và cũng làm tôi hạnh phúc nhất, trong quá trình viết, là cách ông dần dần có được vị trí của mình. Vị trí của mẹ tôi thì hiển nhiên: khi còn sống bà đã chiếm chỗ lớn, trong sách bà cũng chiếm chỗ lớn… Nhưng cha tôi cũng tự khẳng định, theo một cách âm thầm hơn. Ông có sự cao cả bí mật của riêng mình… Tôi tin, tôi hy vọng rằng cuối cùng ông đã thực sự hiện diện trong cuốn sách. Suy cho cùng, đây là một cuốn sách về tang tóc, nhưng nó được viết trong một sự dịu dàng nhất định, như thể tôi đã cuộn mình trong sự pha trộn giữa những ký ức riêng tư, các chi tiết về lịch sử Nga và những khoảnh khắc lịch sử đương thời.
Và ông có tìm lại trong mẹ mình hình ảnh người từng là, khi ông còn nhỏ, tình yêu lớn của đời ông?
Tôi muốn vừa kể lại người mẹ đã-từng-là của chúng tôi khi còn nhỏ, vừa kể lại bà cụ già sắp ra đi, người nói với tôi: “Thật lạ lùng thay cuộc đời, khi nghĩ rằng ta từng là một bé gái, và bây giờ ta là một bà già 94 tuổi đang hấp hối…” Giữa hai khoảnh khắc đó là cả một đời người, và đời không hề đơn giản: chẳng ai là thánh cả, tôi cũng không. Sau đó, tôi cũng kể lại tất cả những gì chúng tôi có chung, tất cả di sản phức tạp ấy đã góp phần biến tôi thành một nhà văn: những gì bà cho tôi đọc, những gì tôi làm cùng bà, như chuyến đi Matxcơva đầu tiên của tôi vào mùa hè 1968… Bà không mấy yêu thích thể loại nhà văn tôi đã trở thành, nhưng tôi tin bà yêu thích việc tôi là một nhà văn, điều đó khiến bà tự hào. Chân dung tôi vẽ bà, vốn không phải lúc nào cũng đẹp, được khung lại bởi những điểm sáng này. Với ý tưởng rằng một gia đình, bất chấp những sự tầm thường của từng cá nhân, vẫn có thể là một cộng đồng gắn kết bởi tình yêu.
TOLSTOÏ VS DOSTOÏEVSKI
“Ông ngoại tôi, vốn là một nhân vật mang màu sắc Dostoïevski đậm đặc, luôn coi Tolstoï là một giá trị giả tạo và xem Dostoïevski mới là thiên tài. Vì thế, mẹ tôi lớn lên trong ý nghĩ đó, và tôi cũng được nuôi dưỡng trong cùng một niềm tôn sùng. Chỉ rất muộn sau này, khi chúng tôi lần lượt ở tuổi 50 và 30, ông cậu tôi gọi tôi giữa đêm và nói: ‘Cậu đang đọc Chiến tranh và Hòa bình, và cháu cũng phải đọc đi nhé.’ Đó là một trong những cú sốc văn chương lớn nhất đời tôi, đến mức mẹ tôi có phần bực bội. Từ đó mới có câu nói đùa của một người bạn: ‘Ở nhà các cậu, khi bắt đầu đọc Tolstoï, lập tức biến thành Festen12 rồi…’
Sự trong sáng mang tầm vũ trụ, rất ít tính ý hệ của Tolstoï vẫn luôn làm tôi kinh ngạc. Dĩ nhiên, tôi không vì thế mà ngừng yêu Dostoïevski, nhưng ở Ukraine tôi đã nghe những cuộc trò chuyện khiến mình phải suy nghĩ. Một cặp vợ chồng trí thức tuyệt vời, thông thạo tiếng Pháp và yêu văn hóa Pháp, đã khăng khăng giải thích với tôi rằng các nhà văn Nga đều tệ hại và rằng Dostoïevski, kẻ Slavophile [người tôn vinh tinh thần Slavơ] theo chủ nghĩa dân tộc, chính là tên tồi tệ nhất trong số đó… Đặc biệt, tôi gặp một người đàn ông từng bị Nga tra tấn, phải trải qua đúng thứ mà Dostoïevski từng nếm trải: một vụ hành quyết giả. Khi ông ta sau này chạm mặt lại kẻ đã đạo diễn vụ việc, người đó nói rằng bà ta muốn biết cảm giác của một người khi nghĩ rằng mình sắp chết. Ông chỉ trả lời: ‘Đi mà đọc Dostoïevski.’ Ban đầu tôi tưởng đó là một lời tôn vinh. Nhưng sau cùng, điều tôi nghe thấy lại là: ‘Cái thứ văn chương vị thành niên bệnh hoạn, say sưa với những trải nghiệm bạo dâm, thì xin giữ lấy cho mình.’ Theo tôi, điều này không thể khép lại hồ sơ Dostoïevski, nhưng chắc chắn nó là một mảnh ghép cần được thêm vào.”
Kirill Serebrennikov (sinh năm 1969): đạo diễn sân khấu và điện ảnh Nga, nổi bật nhờ phong cách táo bạo, pha lẫn hiện thực khốc liệt với yếu tố trữ tình và ẩn dụ thị giác. Ông được quốc tế biết đến qua các phim như Leto (2018) về làn sóng rock ngầm ở Liên Xô thập niên 1980, hay Petrov’s Flu (2021), một hành trình mộng mị (kiểu bệnh lý) về đời sống hậu Xô Viết. Ngoài vai trò nghệ sĩ, Serebrennikov còn là biểu tượng về việc đối đầu với kiểm duyệt và áp lực chính trị trong nước; ông từng bị quản thúc tại gia và bị ngăn cản tham dự liên hoan phim Cannes, nơi phim của ông được trình chiếu. Chính những trải nghiệm này khiến việc làm phim của Serebrennikov mang một tầng nghĩa kép: thực hành nghệ thuật và kháng cự chính trị.
Robert Brasillach (1909-1945): nhà văn, nhà báo Pháp. Ông nổi bật trong thập niên 1930 với tiểu thuyết và phê bình điện ảnh, nhưng cũng là người ủng hộ phát xít và hợp tác với chính quyền Vichy trong Thế chiến II. Sau chiến tranh, Brasillach bị xét xử vì tội phản bội và bị xử bắn.
Từ kolkhoze (колхоз) trong tiếng Nga, viết tắt của коллективное хозяйство (nông trang tập thể), chỉ mô hình hợp tác xã nông nghiệp trong thời Liên Xô, nơi đất đai và phương tiện sản xuất được sở hữu tập thể và nông dân lao động chung dưới sự quản lý của nhà nước. Cụm từ “chơi làm kolkhoze” được dùng mỉa mai, ám chỉ một hình thức giả vờ tập thể hóa, làm theo phong trào.
Theo truyền thuyết, Damocles là một cận thần trong triều đình của vua Dionysius II, vị vua cai trị Syracuse (một thành bang ở Sicily, thế kỷ 4 TCN). Damocles luôn xu nịnh nhà vua, ca ngợi sự giàu sang và quyền lực của ngài, cho rằng vua là người hạnh phúc nhất. Để dạy cho Damocles một bài học, Dionysius đề nghị đổi chỗ cho anh ta một ngày để trải nghiệm cuộc sống của một vị vua.
Trong bữa tiệc xa hoa, Damocles được ngồi trên ngai vàng, tận hưởng sự giàu có và quyền lực. Tuy nhiên, Dionysius ra lệnh treo một thanh gươm sắc bén ngay phía trên đầu Damocles, chỉ được giữ bằng một sợi dây mỏng manh làm từ lông ngựa. Lưỡi gươm có thể rơi xuống bất cứ lúc nào, khiến Damocles không thể tận hưởng sự xa hoa mà chỉ cảm thấy lo sợ và bất an. Cuối cùng, anh ta xin được rời khỏi ngai vàng, nhận ra rằng quyền lực và sự giàu có luôn đi kèm với nguy hiểm và áp lực.
Salomé Zourabichvili (sinh năm 1952), nhà ngoại giao và chính trị gia người Pháp-Gruzia. Bà từng là Bộ trưởng Ngoại giao Gruzia (2004-2005) và là nữ tổng thống đầu tiên của nước này (2018-2024). Xuất thân từ gia đình lưu vong tại Paris, Zourabichvili được đào tạo và làm việc nhiều năm trong ngành ngoại giao Pháp trước khi trở về Gruzia. Trong nhiệm kỳ tổng thống, bà nổi bật với lập trường thân châu Âu nhưng đồng thời cũng gây tranh cãi vì những nhượng bộ chính trị trong quan hệ với Nga.
Phim ngắn Des trains dans la guerre (2025), do Emmanuel Carrère và Lucas Menget đạo diễn. Phim có thể xem ở đây.
Anna Politkovskaïa: (1958-2006), nhà báo điều tra người Nga, nổi tiếng với các phóng sự phơi bày tội ác chiến tranh ở Chechnya và sự đàn áp của chính quyền Putin; bà bị ám sát tại Moscow năm 2006.
Boris Nemtsov: (1959-2015), chính trị gia đối lập Nga, từng là phó thủ tướng dưới thời Boris Eltsin; sau này trở thành một trong những tiếng nói phê phán mạnh mẽ Putin và bị ám sát gần điện Kremlin năm 2015.
Quan điểm “đại Nga” được Nabokov thể hiện qua lăng kính văn hóa trong Nicolas Gogol phản ánh một góc nhìn realpolitik, hạ thấp văn hóa Ukraine và Gruzia xuống mức dân gian, điều mà mẹ tác giả Emmanuel Carrère dường như cũng đồng tình.
Những buổi chiều ở làng Dikanka: tập hợp các truyện ngắn của nhà văn Nikolai Gogol, được xuất bản lần đầu vào năm 1831-1832. Đây là tác phẩm đầu tay của Gogol, lấy bối cảnh vùng nông thôn Ukraine, cụ thể là gần làng Dikanka, và gợi nhiều đến văn hóa dân gian và phong tục của người Ukraine.
Bài thơ gốc bằng tiếng Anh, được xuất bản trong tập Homage to Clio (1960), có hai câu như sau:
If equal affection cannot be, Let the more loving one be me.
Bài thơ đầy đủ:
The More Loving One
Looking up at the stars, I know quite well
That, for all they care, I can go to hell,
But on earth indifference is the least
We have to dread from man or beast.
How should we like it were stars to burn
With a passion for us we could not return?
If equal affection cannot be,
Let the more loving one be me.
Admirer as I think I am
Of stars that do not give a damn,
I cannot, now I see them, say
I missed one terribly all day.
Were all stars to disappear or die,
I should learn to look at an empty sky
And feel its total dark sublime,
Though this might take me a little time.
Ý nói đến bộ phim Festen (1998) của đạo diễn Đan Mạch Thomas Vinterberg, nhan đề tiếng Anh là The Celebration. Phim kể về một bữa tiệc gia đình hoành tráng (mừng sinh nhật người cha), tại đó những bí mật kinh hoàng bị phơi bày: lạm dụng, bạo lực, sự giả dối của bề ngoài êm đẹp. “Festen” từ đó trở thành một biểu tượng văn hóa cho cảnh gia đình tưởng chừng nghiêm trang, nề nếp, nhưng bên trong lại bùng nổ khủng hoảng và bi kịch.




