Biên độ lỗi - Một lịch sử (1)
Chuyện thứ nhất: Con bọ chét ở trên chuột
Hiện thực bắt đầu từ một cái lệch rất nhỏ.
***
Bằng những nỗ lực vô thừa nhận, con người và các diễn ngôn xã hội của họ thường đi đến xu hướng, một sự lý tưởng hóa, là việc chuộng cái hoàn hảo, tính không tì vết, cái trôi chảy, tính quy phạm. Các nhà sưu tập, chẳng hạn, ưa chọn những món đồ đẹp đẽ, phẳng phiu, trơn gáy. Các nhà giáo thường thích học trò viết chữ đẹp, nắn nót, trình bày ngay ngắn. Các giám thị thì hay dùng một từ mỹ miều là “nền nếp”. Các bạn sính ngữ thường thích phô diễn khả năng nói tiếng Anh lưu loát, nói như người bản địa (mà “bản địa” nghĩa là gì?) và look down với những ai có giọng chưa chuẩn - như thể accent, ngữ giọng là cái thứ xấu xí, thô kệch và cần giấu diếm (như chuyện của Huy Forum).
Dần dà người ta quên mất việc nhìn, lắng nghe, đặt trong tâm vào tính đơn lẻ, tính cá nhân, cái riêng, cái rời rạc, lạc nhịp, những thứ nằm bên lề, những thứ mà tới một độ người ta không “chịu” được nữa, họ tìm cách thải loại và gạt bỏ. Nhưng phần lớn, phần đông, tiện nghi hơn cả, là họ dành cho nó sự thờ ơ. Kẻ khó-chịu-ở-trong-phòng không phải là người săm soi cái tỉ mỉ, hay để ý đến sự khác biệt, mà là những ai coi rằng đi tìm sự không hoàn hảo là bới lông tìm vết, là chú tâm quá mức vào những sai lệch nhỏ không đáng có, không đáng kể, tầm thường, vặt vãnh - thậm chí, có thể là vô nghĩa.
Thế giới của Đấng tạo ra dường như là hoàn hảo. Hình tròn là hình dạng hoàn hảo. Giọt nước có hình cầu cho tới khi bị trọng lực kéo xuống. Những bông tuyết là một kết tinh đối xứng (Kepler phát hiện ra trong lúc chán đời đi tiệc tối)1. Chúng là kết tinh có đối xứng sáu cánh vì cấu trúc phân tử nước khi đông lạnh tự sắp xếp theo hình lục giác. Các tinh tú, như mặt trăng, ngay cả ở phiên bản trăng khuyết, cũng dường như là hình thù hoàn hảo; kể cả khiếm khuyết, cũng là khuyết trong một chu trình tuần hoàn có thể dự báo và đong đếm được; cho tới khi người ta lên tới bề mặt và nhận ra nó gồ ghề.
Mọi thứ trong tự nhiên đều dường như hài hòa, cho tới khi ta có một dụng cụ đủ tinh nhạy để ghi lại tính không hài hòa, sự mất cân xứng, cái hỗn loạn. Thiên kiến lớn nhất của con người nằm ở chỗ đó. Ta cứ ngỡ là mình biết, cho đến khi ta nhận ra rằng thứ mình biết thật ra chỉ là sự vo tròn vặt vãnh; cái ta biết nằm gọn ghẽ, hài hòa trong cái không biết rộng lớn vô tận và hỗn loạn tới vô tận. Dự báo thời tiết và dự báo kinh tế học là hai thứ dễ bị sai hơn cả. Và một thiên kiến khác, xuất phát từ thiên kiến nói trên (over-confidence bias) là coi rằng những sai lệch nhỏ là không đáng kể bởi vì chúng rất hiếm gặp trong tự nhiên.
Bởi thế, “cái nhìn khách quan” là phạm trù có độ trượt nghĩa nhất định. Đối với lịch sử khoa học, như Lorraine Daston và Peter Galison chỉ ra trong cuốn Objectivity, nói về tính khách quan, hay cái nhìn khách quan của người làm khoa học, là ta đang nói tới câu chuyện về sự thay đổi và hoàn thiện cách nhìn. Không phải một ngày nào đó mặt đất nẻ ra và người ta phát minh ra một lăng kính, một cái nhìn khách quan tuyệt đối có thể tách bạch mọi thứ nhiễu và tán đều mọi gãy gập hòng đưa ra trình bày rõ ràng nhất, mẫu mực nhất về mọi sự thể, sự việc. Lịch sử tính khách quan là câu chuyện về tái cơ cấu nội tại; quá trình tái cơ cấu ấy có nhịp độ riêng, sự nhất quán, có các mô hình giải thích nhất định. Tính khách quan như là đạo đức của người làm khoa học có tiến trình hình thành từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20; nó sẽ dần thay thế thái độ truth-to-nature từ trước đó (cái nhìn chân thực hết mức có thể với tự nhiên).
Một thứ khách quan tuyệt đối, cái khách-quan-của-Đấng, hẳn nhiên là không thể.
Tôi muốn viết về những khiếm khuyết, sai số và lỗi như một mớ mắc míu những câu chuyện. Những khám phá mới không tẩy bỏ hoàn toàn các phát hiện cũ; chúng chồng lấp lên nhau, cái mới nằm dựa lên những tàn tích sót lại của tiền lệ. Tôi không phải là chuyên gia trong một số lĩnh vực riêng biệt (dịch tễ học chẳng hạn), nhưng tôi muốn thông qua việc kể chuyện, có thể khơi gợi một dạng mô hình giải thích nhất định. Trọng tâm của mô hình diễn giải đó, là thông qua cái tôi tạm gọi là “biên độ lỗi”. Để mang tâm thế khiêm nhường với mọi sự phát hiện, ta cần phải nới rộng lòng khoan dung của mình với các khiếm khuyết. Ta cần cho mình một khoảng không, khoảng lặng để đọc, để quan sát và tưởng tượng những cái không đáng kể, cái tẻ nhạt, thứ tầm thường.
Tức là, phải nới rộng biên độ có thể mắc lỗi của mọi sự - nới rộng mối bất tiện ta có thể “chịu” và thu giảm khu vực an toàn của nhận thức.
Chuyện thứ nhất: Con bọ chét ở trên chuột
Tôi dường như có một niềm hứng thú với các loài côn trùng, ký sinh và gặm nhấm. Tôi đã kể câu chuyện về nấm zombie hay nấm sát thủ, một kẻ xâm nhập qua vỏ não của con kiến thợ mộc, thao túng hệ thần kinh của loài kiến này và trao cho chúng một định mệnh: đó là chết nhiều nhát. Nói hoa mỹ, là chết theo chu kỳ.
Khi con kiến đã leo lên đến một độ cao vừa đủ, thường là khoảng 25cm đến 30cm từ mặt đất, nơi độ ẩm và ánh sáng tối ưu cho sự phát triển của nấm, nó sẽ tự cắn chặt vào thân cây hoặc mặt dưới của một chiếc lá bằng cái hàm mạnh mẽ. […] Đó là kết quả cuối cùng của một chuỗi thao túng thần kinh âm thầm và chính xác mà nấm thực hiện trong não bộ kiến.
Kể từ thời điểm đó, kiến hoàn toàn bất động. […] Chỉ chờ chết.
Vi khuẩn Yersinia pestis (do nhà vi khuẩn học Pháp gốc Thụy Sĩ Alexandre Yersin phát hiện ra) không phải là ký sinh trùng mà là vi khuẩn gây bệnh (bệnh dịch hạch). Nó sống và nhân lên trong cơ thể các loài gặm nhấm hoang dã, đặc biệt là chuột, và được truyền sang vật chủ khác qua bọ ký sinh trên các động vật này.
Vật chủ của Yersinia pestis, trong câu chuyện ta đang nói tới, là bọ chét, còn “vật chủ” của con bọ chét ấy là chuột đen hoặc chuột đồng (Rattus rattus). Trước thế kỷ 19, không có kính hiển vi đủ tốt, không có vi sinh học, không có khái niệm “vi khuẩn gây bệnh”, người ta không thể hình dung được một con vi khuẩn, nằm trên mình con bọ, lại là nguyên nhân dẫn tới những đợt dịch chết người - những đợt cao trào cướp đi sinh mạng hàng trăm triệu người. Vi khuẩn này chỉ được phát hiện năm 1894 và cơ chế lây qua bọ chét phải vài năm sau đó mới được làm rõ.
Quay lại khung tư duy của châu Âu thời trung cổ: người ta không thể tưởng tượng ra một sinh vật cực nhỏ trong bọ chét lại là nguyên nhân gây chết người; vì thế họ buộc phải gắn dịch bệnh với những thứ có thể thấy hoặc cảm nhận: khí độc, mùi hôi, sao trời, ý trời, tội lỗi, hoặc những nhóm người “đáng ngờ” - những “kẻ khác” (như người Do Thái, người phong hủi, hay những ai bị xem là phù thủy). Ở châu Âu thời đó, tai họa lớn thường được hiểu như hình phạt của Chúa, hay ảnh hưởng của các chòm sao, hay sự mất cân bằng của “thể dịch” trong cơ thể.
Một khi đã tin (một belief rất chắc chắn) rằng nguyên nhân của dịch bệnh là cơ chế siêu nhiên hay tín hiệu vũ trụ (Chúa trừng phạt, hay rơi trúng sao xấu), thì động cơ tìm kiếm một tác nhân cụ thể, trung gian gần như không tồn tại. Người ta sẽ cầu nguyện, rước kiệu và kêu gọi “kẻ khác” đền tội.
Đến cuối thế kỷ 19 mới tạm có cái gọi là khoa học vi sinh. Các nhà khoa học lúc đó mới có thể hình dung rằng một khác biệt vi mô trong cấu trúc cơ thể của bọ chét chuột - nhỏ đến mức chỉ thấy được dưới kính hiển vi - là nguyên nhân khiến dịch hạch lan truyền mạnh. Song trong hơn 2.500 loài bọ chét, chỉ riêng bọ chét ở chuột đen (Rattus rattus) có một đặc điểm đặc thù: đoạn “tiền dạ dày” của nó có cấu trúc van có gai hướng vào trong giúp bám giữ vi khuẩn dịch hạch Yersinia pestis. Khi vi khuẩn dịch hạch đi vào cơ thể bọ chét qua máu chuột, chúng không chảy thẳng vào cơ thể như ở các loài côn trùng hay loài bọ khác mà mắc kẹt lại và kết tụ thành một nút tắc trong cụm gai nhỏ này.
Cú tắc nghẽn tiền dạ dày ấy khiến bọ chét không thể nuốt máu; chúng có xu hướng trào ngược lượng máu chứa vi khuẩn trở lại vết đốt. Ta có thể hình dung, vòi chích của bọ chét biến thành một ống tiêm bơm thẳng mầm bệnh vào cơ thể người. Cơ chế rất tinh vi này (hoàn toàn không thể quan sát được bằng mắt thường hay bằng các dụng cụ khoa học thô sơ trước thế kỷ 19), không thể nào trở thành cách giải thích khả dĩ với những con người ở thời đó. Họ không có kính hiển vi đủ mạnh, cũng hoàn toàn không có ý niệm về vi khuẩn hay cơ chế truyền bệnh qua vật trung gian.
Chỉ khi khoa học tiến bộ, khung hiểu biết và công cụ quang học mới xuất hiện, người ta mới nhận ra rằng không phải Đấng, không phải trời hay thánh thần, hay chính bản thân loài chuột gây ra dịch hạch (mặc dù chuột chết như ngả rạ là thứ người ta chứng kiến ở khắp nơi). Nguyên do là một khác biệt rất nhỏ trong giải phẫu của một loài bọ chét - và như đã nói, một loài cụ thể trong khoảng 2.500 loài bọ (flea). Sự lệch rất nhỏ này - vô hình đối với cả thế giới tiền hiện đại - chính là mắt xích quan trọng nhất giúp giải thích cơ chế lan truyền của đại dịch Cái chết đen từng càn quét châu Âu thế kỷ 14.
Phim tài liệu dưới đây lần lại quá trình khám phá ra nguyên nhân của Cái chết đen.
***
Nhìn vào câu chuyện con bọ chét cho ta thấy một điều: khả năng “thấy” và “biết” của mỗi thời đại bị giới hạn bởi kiến thức và công cụ của chính thời đại đó. Ngày nay ta có thể thấy rõ những chi tiết vi mô mà người xưa không thể thấy, nhưng bản thân tri thức hiện tại cũng sẽ trở nên thô sơ, lệch lạc dưới con mắt của những thế hệ sau. Việc chủ động mở rộng biên độ chịu đựng đối với lỗi, từ độ lệch trong giả thuyết, độ fairness trong dữ liệu đến những diễn giải khác nhau, giúp chúng ta bớt nóng vội phán xét, đồng thời giữ được một khoảng mở cho những mô hình hay bằng chứng “lệch pha” có cơ hội xuất hiện.
Hẳn chúng ta còn nhớ, trong sách sinh học (hay địa lý) vào những năm 1990 ở Việt Nam, học sinh được học về hệ thống chia loài người thành 3-4 “đại chủng” (Caucasoid, Mongoloid, Ethiopid/Negroid), dựa chủ yếu vào một vài đặc điểm bên ngoài như màu da, mắt, tóc hay mũi - tức là gom hàng trăm nhóm người rất khác nhau vào một “loại” dường như thuần nhất. Hệ thống này bắt nguồn từ Johann Friedrich Blumenbach và Anders Retzius, những người đặt nền móng cho phân loại chủng tộc dựa trên giải phẫu và đo sọ học (craniometry) từ thế kỷ 18-19. Cách phân loại ấy ngày nay bị coi là lỗi thời vì không phản ánh dữ liệu di truyền, không tính đến lịch sử di cư phức tạp và sự pha trộn liên tục giữa các quần thể; hơn nữa, nó vô tình duy trì những giả định phân cấp đã từng gắn với nhân học thời kỳ đầu.
Nghiên cứu di truyền hiện đại cho thấy sự khác biệt về gene trong cùng một “chủng” thường lớn hơn chênh lệch giữa các “chủng” khác nhau. Các nhãn dán Mongoloid, Negroid, Caucasoid không còn giá trị khoa học chặt chẽ mà chỉ còn là di sản của một giai đoạn vừa thiếu dữ liệu vừa mang nặng định kiến. Thay vì coi những phân loại đó là “bản đồ thật” của loài người, các ngành sinh học và nhân học ngày nay chuyển sang đặt trọng tâm vào vấn đề quần thể, lịch sử di cư, thích nghi địa lí và đa dạng cá nhân, và cho rằng cách vẽ ranh giới cứng giữa các nhóm người là cách nhìn giản lược, phi sinh học2 và dễ bị lạm dụng vào các mục đích chính trị.3
Điều này gợi ý một thái độ nhận thức quan trọng: thay vì tìm cách lật lại rằng người xưa đã sai hoàn toàn, ta có thể coi những mô hình cũ như những nỗ lực khám phá tự nhiên trong giới hạn tri thức và công cụ của thời đại họ. Chúng chính là những tàn dư (ruin) cần thiết, giúp ta nhìn thấy quá trình hình thành của tư duy khoa học và hiểu rằng mọi khung giải thích đều mang dấu vết của thời điểm nó ra đời. Thay vì chỉ chăm chăm truy tìm một cách nhìn nhận nhị nguyên “ai đúng, ai sai”, có lẽ điều thiết yếu hơn là nới rộng biên độ chấp nhận sai số, chấp nhận những “lệch pha” giữa mô hình với thực tại như một phần tất yếu của quá trình tiến gần hơn đến sự thật. Khi ta cho phép các mô hình khác nhau cùng tồn tại trong một khoảng sai lệch chấp nhận được, ta cũng buộc mình phải nhìn sự vật như một đối tượng phức tạp, nhiều tầng nghĩa.
Chính trong những vùng biên của bất ổn, nơi ta thừa nhận rằng mọi mô hình giải thích đều có khả năng sai lệch ở mức độ khác nhau, một dạng hiểu biết khiêm nhường và giàu chiều sâu hơn về thế giới mới có cơ hội hình thành. Đó là nguyên tắc tôi nghĩ nên đặt vào trọng tâm của bất cứ mô hình diễn giải nào.
Johannes Kepler đã phát hiện cấu trúc của những bông tuyết (snowflake) khi ông cảm thấy nhàm chán và đi dự tiệc tối, ông quan sát và viết một bài ngắn năm 1611 với nhan đề “Về bông tuyết sáu góc”. Trong đó, ông thắc mắc tại sao bông tuyết luôn có sáu cánh mà không phải năm hay bảy cánh. Ông cho rằng sự đối xứng này liên quan đến cách các hạt hoặc tinh thể nhỏ xếp chặt với nhau để làm sao tối ưu nhất trong không gian. Đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu hình học-cấu trúc tinh thể tự nhiên.
Tuy nhiên, trong nhiều nước xã hội chủ nghĩa thế kỷ 20, các hệ phân loại chủng người cũ vẫn được duy trì trong giáo trình sinh học và y học do ảnh hưởng từ khoa học Liên Xô. Mô hình khoa học Xô viết có xu hướng giữ lại các khung phân loại mang tính ổn định và thống nhất, nhằm “tĩnh hóa” sự đa dạng của nhân loại trong một hệ thống lý thuyết mang tính duy vật và cấu trúc hơn là chú trọng đến biến đổi hay lai hòa sinh học.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo không sử dụng các thuật ngữ chủng tộc lỗi thời trong nghiên cứu y khoa và di truyền học.


