Viết về phim và nỗi sợ bị hư hao
Hãy để dành cho người xem một trải nghiệm cầu kì và trọn vẹn
Tôi rất ít khi viết về phim. Đơn giản vì tôi chưa tìm ra được concept để viết.
Phim khác với sách, vì nó là một tổng thể cần được xem (và nghe) một cách trọn vẹn. Vì thế việc xem phim luôn đi cùng với rạp phim; cả hai là một phần của cùng ký ức. Tôi có một nguyên tắc, là để nhớ về thành phố nào, hãy xem một bộ phim hay ở thành phố đó. Tôi đi xem Heldin ở một rạp sinh viên ở Leiden, hay xem Rosebush Pruning ở một rạp arthouse ở Munich. Xem xong thì trời đã muộn, tôi thường ngồi ở rạp thêm dăm vài phút để nghĩ về những gì đã xem. Và tôi biết sau này, mình có thể nói hàng giờ đồng hồ về trải nghiệm đó.
Xem phim trên laptop đã là sự hư hao, nhưng là điều ta phải chấp nhận, nhất là đối với phim cũ, hoặc phim “tỉnh lẻ” quê mùa và khó kiếm. (Phải đến rất gần đây, ngay cả ở khu vực anglophone, phim tỉnh lẻ nói đặc tiếng Ai-len Gaelic mới chuyển dịch từ một hiện tượng đơn lẻ trở thành phim dòng chính, như trường hợp The quiet girl.) Và dĩ nhiên, với người thích xem phim, hư hao là cực chẳng đã, là điều ta luôn tránh.
Một bộ phim có “cấu trúc” khác với sách. Tôi đã từng viết bên Nhà Z, rằng có cuốn sách vô tình dính nước tèm nhem, hay bị dây… nước cá kho, tôi vẫn đọc tốt. Gần đây tôi còn có cuốn sách dây cứt em bé, nhưng lau sạch, để đến ngày hôm sau lại có mùi giấy tinh tươm như bình thường, cầm lên vẫn đọc tốt; hoặc thử, cho ai khác mượn họ vẫn không biết là cuốn sách từng gặp một sự cố khó coi như thế. Tiểu thuyết mất vài trang vẫn đọc tốt. Sách giáo khoa mất bìa long gáy vẫn học được. Cơ chế cân bằng ô-xy trong não ta vẫn hoạt động bình thường. Cầm cuốn sách bị hư hao lên, ta không thấy làm sao cả. Vì chữ… dẫu thế nào, vẫn luôn còn trọn vẹn là chữ.
Nhưng với phim thì khác. Trước đây, dân xem phim từng có một vấn đề là… đĩa xước. Đĩa VCD chép lậu chất lượng đã phập phù. Giả dụ xem Gác kiếm có Thư Kỳ và Triệu Vy, đến đoạn đọ kiếm nóng bỏng mà đĩa xước thì… sự cân bằng ô-xy trong não ta sẽ ngay lập tức giở thói bất thường, ta sẽ bật ngay công tắc OCD. Cú xước lặp đi lặp lại sẽ gây ra nỗi ám ảnh thường trực, một rối loạn lo âu cưỡng chế. Bạn hiểu ý tôi chứ?
Phim vẫn luôn là một trải nghiệm bao gộp nhiều sense của cơ thể, cả nghe, nhìn, cái mùi của nơi chốn, cái ngón tay ta bốc bỏng rang. Trải nghiệm xem có thể bị ngắt quãng bởi những thứ đứt đoạn, hoặc bất cứ một kích hoạt tinh thần nào gây cho ta mối lo lắng. (Hẳn nhiên, mỗi một dạng phim có một lộ trình kích hoạt cau có khác nhau; chẳng hạn xem Friends thì ta vừa nấu ăn vừa xem cũng không vấn đề gì.) Đó là lý do, người ta đã phát minh sẵn ra rồi, phim hay thì ra rạp mà xem cho trọn vẹn.
Hiểu về phim như một chỉnh thể nghệ thuật, một œuvre d'art của thị giác, thính giác và nhịp điệu, một kết quả từ nỗ lực của cả đoàn làm phim, từ đạo diễn, quay phim, dựng phim, soạn nhạc cho đến các lớp diễn viên, tôi mới càng hiểu lý do vì sao các bình luận trên Reddit hay những trang đánh giá phim luôn cần dán nhãn “tiết lộ nội dung” [spoiler]. Việc cảnh báo này giúp những ai chưa xem có thể né tránh để bảo toàn trải nghiệm, trong khi những người xem rồi vẫn có không gian để thảo luận và phân tích các tình tiết bất ngờ.
Lý giải người này chết hay người kia chết cuối phim là việc làm rất thừa thãi, vì phim, nhất là arthouse, phản ánh phong cách cá nhân và những trăn trở rất riêng của tác giả; họ cũng không dự định cho nhân vật này chết hay nhân vật kia chết đâu, vì bản thân các bước diễn tiến, những cú kế tiếp đã là một mối trăn trở; mà nếu không như thế, thì nó đã không phải là một mối trăn trở đúng nghĩa, như nguyên bản.
Thế nên bình phim cần sự tiết chế; khi một phim mới ra, có lẽ người review không nên sa đà vào tại sao cái kết lại như thế, tại sao nhân vật này hay nhân vật kia lại chết, tại sao họ không đến được với nhau. Hãy để dành cho người xem một trải nghiệm cầu kì và trọn vẹn, một sự đọc-ngây thơ — một điều hiếm hoi trong thời đại AI — như thể chính bộ phim sinh ra là để dành cho sự hiếm hoi như thế.
Thế là hôm bữa, tôi mới bàn luận với vài người bạn về việc viết review phim cho tạp chí. Với tất cả sự cân nhắc và chừng mực có thể (tôi thì rất ít khi chừng mực), tôi nghĩ về concept có thể là thế này: tôi chỉ cần viết về tại sao những bộ phim làm tôi thích, thực sự thích (phim nào không thích thì có lẽ không nên viết về nó, mà hãy dành thời gian làm việc có ích hơn). Phải vậy, viết một hơi dài; và khi hết hơi thì dừng lại.
Viết về cái mình thích thì thật ra, đôi khi khá nhiêu khê và lằng nhằng. Nhưng có ích. Kết quả là, như một thought experiment của bọn hay triết lý, tôi mất rất nhiều thời gian để… định nghĩa cái màu vàng của sa mạc và cát bỏng trong phim.
Dưới đây là bài review tôi viết về phim Sirāt, đăng trên tạp chí Tatler Việt Nam.
Gió, cát và nhịp giữa sa mạc: Sự tan rã của phán xét
Có những phim ta xem và quên chỉ trong vài ngày. Có những bộ phim ta nhớ vì chúng đèm đẹp hoặc câu chuyện chạm đến điều gì đó; giống như trên một chuyến tàu, ta bắt gặp cánh đồng hoa vàng qua cửa sổ, và ta nhớ về nó như một khung hình của tâm trí. Còn có một dạng phim, hiếm hơn, khó chịu hơn, ta không xem bằng mắt mà cảm bằng da thịt, và tiếng động của chúng vẫn còn rung trong lồng ngực ta vào sáng hôm sau khi thức dậy. Sirāt của Óliver Laxe thuộc vào loại đó.
Ông bố lạc giữa bữa tiệc
Tôi nên kể qua cốt truyện: Bộ phim theo chân Luis, một người cha đưa cậu con trai nhỏ Esteban đến Morocco để tìm kiếm cô con gái mất tích. Manh mối cuối cùng dẫn họ đến một buổi tiệc âm nhạc điện tử tự phát diễn ra giữa sa mạc, người tham gia tụ tập nhảy múa suốt đêm trong ánh sáng và âm thanh cường độ cao (dân cuồng nhạc điện tử gọi là “rave du mục”). Chính tại một sự kiện như vậy, cô con gái đã biến mất không dấu vết, mở ra hành trình tìm kiếm đầy bí ẩn và căng như dây tóc. Hai cha con gia nhập một đoàn người đang di chuyển về phía một bữa tiệc khác, sâu hơn trong hoang mạc. Và dần dần, không theo đường thẳng, không theo nguyên nhân-kết quả bình thường của điện ảnh, mọi thứ tan rã.
Tôi không rõ tóm tắt như thế có chuẩn bị cho bạn cho một trải nghiệm “duy cảm” sẽ xảy ra khi bạn ngồi trong rạp tối và âm thanh techno thô ráp, đầy ám ảnh bắt đầu đập vào ngực bạn. Trong Sirāt, nhạc trở thành một lực đẩy của câu chuyện: nó dẫn dắt cảm giác hành trình, đồng thời tạo ra sự bấp bênh và lạc lối của các nhân vật.
Tên Sirāt là từ tiếng Ả Rập chỉ con đường, nhưng trong thần học Hồi giáo mang nghĩa cụ thể hơn: cây cầu bắc qua địa ngục mà linh hồn phải vượt qua để đến thiên đường. Những người công chính vượt qua dễ dàng, còn những kẻ tội lỗi vấp ngã. Bộ phim là hành trình vượt cây cầu đó, và không ai trong số các nhân vật, kể cả chúng ta, khán giả, biết mình đang ở bên nào. Óliver Laxe dùng sa mạc như là không gian thử thách nội tâm: nó chứng kiến những gì con người mang vào bên trong mình khi tất cả những thứ bên ngoài như văn minh, thói quen, danh tính, bị gió cát bào mòn.
Đây là điều tôi nghĩ đến khi xem, nghĩ đến cái cách mà một bộ phim không dùng thoại thông thường để truyền tải ý nghĩa. Thay vào đó là âm thanh và ánh sáng. Màu của sa mạc giữa ban ngày là thứ ánh sáng vàng xệch, vàng rát (hay vàng hanh, vàng quạch nắng, không phải vàng óng ả), màu của thứ gì đó đã đóng ghim gọn ghẽ ở lưng chừng thời gian. Màu của quá nhiều nhiệt và quá nhiều không gian. Mauro Herce, người phụ trách hình ảnh của phim, bắt chụp điều đó không bằng những góc quay rộng hùng tráng giống như Lawrence xứ Ả Rập (phim sử thi năm 1962 của David Lean) mà bằng những khuôn hình gần, ngột ngạt, chân trời luôn bị cắt đứt, và những người tham dự cuộc hành trình không được phép thấy mình phải đi bao xa.
Nhưng ta cũng cần nhắc đến âm nhạc. Kangding Ray, tên thật là David Letellier, nhạc sĩ điện tử người Pháp, đã viết một soundtrack từ chối vai trò truyền thống của “nhạc phim”. Bởi thông thường, nhạc phim dẫn dụ khán giả phải cảm gì: đây là nỗi buồn, đây là hồi hộp, còn đây là hy vọng. Nhạc của Kangding Ray, với những tầng âm trầm sâu như địa chất, những tia âm thanh có độ rung mô phỏng hiệu ứng sóng nhiệt (thứ khiến không khí trên cát sa mạc bắt đầu “nhảy múa” và bẻ cong tầm nhìn), những nhịp techno cứ hai mươi phút lại bùng lên như một thiên thể đang lù lù tiến gần Trái Đất, tất thảy không giải thích cảm xúc của Luis, nhân vật chính. Âm thanh ấy chính là cái ông ta cảm nhận nhưng không nói được thành lời.
Giải thích cách làm nhạc và khung cảnh sa mạc trong phim để thấy rằng, có điều gì đó kỳ lạ xảy ra trong não người xem: hẳn là đến một lúc, ta sẽ ngừng phán xét những người “đi xe - đi rave - đi tâm linh” là kỳ quặc hay vô trách nhiệm hay bất cứ điều gì mà cái nhìn xã hội học bình thường đính lên họ. Ta chỉ có lựa chọn ở đó cùng họ, trong trạng thái gần với thiền định hơn là tiệc tùng, cái khoảnh khắc mà âm thanh đủ to để xóa đi giọng nói bên trong đầu ta. Có thể đó là lý do Laxe đặt cuộc tìm kiếm của một người cha giữa một nhóm người đứng bên lề xã hội: vì đi nghe nhạc điện tử giữa hoang mạc, không có điện lưới, không có điện thoại, không có bản đồ, là một trong số ít nghi thức thời hiện đại cho phép người ta cách không nghĩ gì cả, không kiểm soát điều gì, cũng không cưỡng lại cái hiện tại đang xô tới.
Chỉ có sa mạc và nỗi ám ảnh
Nhà dựng phim Matthieu Taponier rõ ràng cắt Sirāt theo nhịp của sự bất ổn hơn là nhịp của câu chuyện. Có những cảnh kéo dài đến mức tôi bắt đầu nghi ngờ liệu mình có đang bị sự đều đặn đánh lừa và bỗng dưng một nhát nhạc techno sẽ thoi cho một cú tỉnh người. Những khuôn hình tĩnh của sa mạc, của bầu trời không mây, của lửa trại đêm, và sau đó, không báo trước, cảnh tiếp theo đã thay đổi mọi thứ. Sắc lẹm như dao cạo, giờ đây, những gì xảy đến trước đó sẽ mang trọng lượng khác, và người xem phải nhìn lại từ đầu bằng con mắt mới.
Và đây là điều sẽ còn gây tranh cãi. Đạo diễn Óliver Laxe từ bỏ làm phim theo logic nhân vật. Sa mạc không quan tâm đến chuyển biến của con người, hay phép màu nhiệm, hay sự hóa thân thường xảy đến sau mỗi cao trào của truyện kể truyền thống. Sa mạc không quan tâm đến thanh tẩy hay soi sáng hay chiêm niệm, những phép “làm sạch”, những sự vượt qua mà người viết kịch bản tâm niệm phải có. Sa mạc chỉ có cái nóng và cát và khoảng cách, và thời gian đi chậm hơn. Khi phim đi đến đoạn cơn bão cát lớn, cảnh mà đoàn làm phim bị bão tấn công và mất một phần thiết bị, Laxe quyết định giữ nguyên cảnh quay đó trong phim thay vì quay lại. Như một cách ngầm hiểu: những gì còn lại là những gì luôn ở đó trước khi câu chuyện bắt đầu: đất, bầu trời, và một người đàn ông không biết mình còn tìm gì nữa.
Sự kiềm chế, thiếu biểu cảm của Luis (do Sergi López, diễn viên Tây Ban Nha gạo cội, thủ vai) bộc lộ một điều: người đàn ông ấy đã hết chỗ chứa cảm xúc. Người đàn ông đã khóc xong từ lâu, giữa những bi kịch trong sa mạc, và bây giờ chỉ còn bước. Khi ông ta nhìn con trai, đứa bé Esteban, người duy nhất trong phim không hiểu tại sao họ lại ở đây, có một thứ gì đó vừa dịu dàng vừa đau đớn. Đó là cái nhìn của người biết rằng mình đang kéo con mình vào nơi không nên dẫn đến. Nhưng âu, đó là điều đâu ở quá xa đời sống thực?
Một trải nghiệm duy cảm
Sirāt là bộ phim khó chịu nhất tôi từng xem trong nhiều năm. Nó cũng là bộ phim đáng nhớ nhất. Trong hầu hết các phim, có một lớp thủy tinh vô hình giữa khán giả và câu chuyện: ta hòa cảm xúc với nhân vật nhưng không quên rằng mình ngồi trong rạp, mình an toàn, rằng sau hai tiếng ta sẽ ra ngoài và bầu trời và cuộc sống vẫn còn đó. Sirāt đập vỡ lớp thủy tinh này bằng cách tận dụng sức mạnh của nhạc điện tử (âm bass từ subwoofer ở đúng ngưỡng tần số thấp sẽ kích hoạt phản ứng sinh lý: tai người gần như không còn nghe theo cách thông thường nữa, mà cơ thể cảm nhận rung động qua khoang bụng, lồng ngực).
Có lẽ, ở tầng sâu, Sirāt là bộ phim về việc lắng nghe. Lắng nghe cái mà hoang mạc, hay rừng, hay biển, hay bất cứ thứ gì rộng hơn và cũ hơn con người, đang cố nói với chúng ta bằng ngôn ngữ bị lãng quên. Có lẽ nhiều khán giả sẽ khó chịu khi bộ phim ngược đãi mọi dạng bài học đạo đức. Luis đến sa mạc để tìm con gái; sau cùng không tìm thấy con nhưng ông tìm thấy điều gì đó khác. Ông đi từ người đàn ông kiểm soát mọi thứ trở thành người đàn ông đứng giữa sa mạc mà không cần kiểm soát gì cả.
Trong những cái thô ráp của phim (cũng là cái thô ráp lấy từ đời sống thực), thì một dòng chuyện kể suôn sẻ, hợp nhãn, hợp nhĩ, hợp lôgic không còn nhiều ý nghĩa nữa. Những cái chết trong phim (vô nghĩa, phi phàm, không thể hiểu nổi) cũng chính là vấn đề hiện sinh: việc đối mặt với những điều không thể lý giải, với những xung đột đặt ta vào thế của kẻ xa lạ. Nó gợi cho người xem một tư tưởng về phản chiến và giảm tăng trưởng; hãy sống chậm lại, gắn chặt đất và người.
Nếu dưới chân là vực thẳm, ta sẽ tiếp tục bước trên cây cầu vì không có lựa chọn nào khác. Nhưng đôi khi, nếu đủ chú ý, nếu ta ngừng trông theo con đường trước mặt và nhìn lên, bầu trời sa mạc vào ban đêm đẹp đến mức ta quên mất mình đang sợ.
Box: Đạo diễn hình ảnh Mauro Herce đã chọn quay bằng phim nhựa Super 16mm trong một thời đại mà tất cả đều số hóa. Lựa chọn này không hẳn là hoài cổ. Nó còn có tính thực địa: máy quay nhỏ, linh hoạt hơn trong điều kiện sa mạc, đồng thời tạo cảm giác hình ảnh nhiều hạt và mang tính vật chất rõ rệt. Super-16 là định dạng phim 16mm cải tiến, trong đó vùng ảnh được mở rộng sang phần phim từng dành cho dải âm thanh nên khung hình rộng hơn và chi tiết hơn so với 16mm chuẩn.


