Khoảnh khắc trúng nhịp
Về phim Hamnet và cách ta chạm vào thế giới qua nghệ thuật
Bài mình viết về phim Hamnet trên tạp chí Tatler. Mình nghĩ bộ phim đáng xem trước nhất bởi vì nhân vật nữ chính. Và tiếp sau đó là hiệu ứng thị giác. Bởi vì, bạn tưởng tượng như thế này: Bộ phim về thời của Shakespeare (Phục hưng Anh; sau Trung cổ) và rất khó để tái tạo ánh sáng vừa đủ trong một căn phòng, nhất là vào lúc chập choạng tối. Vì thế đạo diễn hình ảnh phải rất sáng tạo trong việc kết hợp ánh nến, phục trang và decor của căn phòng.
Và tiếp theo đó là âm nhạc. Nếu bạn từng nghe On the Nature of Daylight của Max Richter trong một đêm mưa.
Và kết hợp tất cả những thứ ấy là ngôn ngữ nghệ thuật. đấy là thứ sống lâu hơn tất cả. và mình nghĩ đấy là point của phim: sẽ là thế nào nếu tình yêu cho một đứa trẻ chính là một dạng ngôn ngữ nghệ thuật? sẽ là thế nào nếu, nói như Nguyễn Huy Thiệp, nhìn vào mắt con trẻ mà sống, cũng là một dạng ngôn ngữ nghệ thuật? sẽ là thế nào, nếu như như sự buông bỏ cũng là ngôn ngữ nghệ thuật, vì suy cho cùng, tạo tác nghệ thuật là một chút chờ đợi, một chút phiêu, một chút lãng mạn và một chút nghiêm cẩn với những gì ta coi là quan trọng và có nghĩa.
Và mình nghĩ bộ phim trung thực ở mức độ ấy. tức là, ngôn ngữ nghệ thuật là nhịp đập, là sự rung cảm giữa ta và thế giới ngoại biên, là một cú catch (một cú đón vào đúng lúc). cũng giống như là, bạn tự hỏi làm thế nào bạn có một perfect pitch khi bạn chơi một nhạc cụ. bạn chỉ cần chơi nó thật lâu, và bạn bắt trúng một cú “hợp âm” vào đúng thời điểm, đó là perfect pitch.
Nên, bỏ qua những thứ bên lề, thì âm nhạc, ánh sáng và nhân vật nữ chính là đủ để ta xem Hamnet ít nhất một lần. (và lần tiếp theo, có lẽ, ta nên đọc cuốn sách).
Mọi thứ chỉ đang đi tới nơi khác
Tôi đã nghĩ mình sẽ không viết về bộ phim này. Đó là điều tôi tự nhủ khi bước ra khỏi một phòng chiếu nhỏ, chỉ chừng mười người xem, của rạp Kamera, ở một tỉnh lẻ miền tây nước Đức. Trời đã nhèm nhèm tối, không khí mùa xuân lạnh và ướt, và tôi đứng đó một lúc không biết phải đi đâu. Bộ phim chạm vào điều gì đó tôi chưa hình dung rõ, một cái gì đó giống như nỗi đau nhưng không hẳn là nỗi đau, giống như sự nhận ra nhưng chưa hoàn toàn thành hình.
Hamnet được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Maggie O‘Farrell. Nhan đề là tên đứa con trai chết yểu của người cha sau này sẽ thành William Shakespeare. (Gọi đây là cuốn sách về tang tóc cũng vô bổ như nói Anna Karenina là cuốn sách về ngoại tình.) Sau Nomadland và The Rider, Chloé Zhao dường như là người đáng tin nhất để đặt máy quay giữa thiên nhiên và để thiên nhiên cất tiếng nói, như một nhân vật có hơi thở riêng. Trong Hamnet, rừng Arden trải dài qua Warwickshire là trạng thái tâm lý thường trực; nó là cái bên trong.
Khi Agnes, vợ của Shakespeare, người phụ nữ kỳ lạ biết đọc cơ thể, lá cây và mùa của đất, xuất hiện trong rừng lần đầu tiên, nằm cuộn mình dưới gốc cây cổ thụ, máy quay chợt dõi theo ánh nhìn của cô tới chỗ con chim ưng đậu trên cành. Như thể chính camera cũng là một sinh vật đang lách qua lớp cỏ ẩm. Lựa chọn này thay đổi toàn bộ quan hệ của cái nhìn: nó không ưu tiên góc nhìn từ trên xuống của con người trước thiên nhiên mà chọn tầm nhìn của kẻ đồng hành.
Tôi đã nghĩ về Michel Houellebecq khi xem phim này, cụ thể là về tiểu thuyết Soumission, về cách Houellebecq mô tả một thế giới nơi con người mất khả năng sống với hiện tại, mất sự kết nối với nhịp điệu sơ khai nào đó mà ngôn ngữ hiện đại không còn chứa đựng được. Một kiểu “địa chính trị của nỗi buồn”: cá nhân bị cô lập trong chính sự tiện nghi của mình. Knausgård từng nhận định rằng Houellebecq viết về sự cô đơn của linh hồn trong một thế giới đã mất đi hình thức. Chloé Zhao đang truy vấn điều tương tự (sự tan rã của những nền tảng tinh thần hiện đại), nhưng bằng ánh sáng thay vì bằng từ ngữ: chúng ta đã đánh mất những gì khi ngừng lắng nghe, không còn nghe tiếng rừng, không còn cảm nhận nhịp điệu của mùa, và bỏ quên cả giọng nói tĩnh lặng bên trong mình?
Agnes biết câu trả lời (và ánh mắt của Jessie Buckley chính là hiện thân của sự chất vấn đó). Cô biết cây nào chữa sốt, khi nào cơn bão sắp đến, biết cả - đây là điều phim không nói thẳng mà để lơ lửng trong không khí - con trai mình sắp chết. Và cô không làm gì được. Đó là bất lực của tình yêu đối với thời gian. Tất cả kiến thức từ “mẹ rừng”, tất cả sự hòa hợp của cô với thiên nhiên, không ngăn được điều mà thiên nhiên định đoạt.
Đạo diễn hình ảnh Łukasz Żal dùng bố cục khung hình rộng và ống kính mở lớn để giữ rừng phía sau Agnes ở trạng thái mờ mềm, tạo cảm giác xa vắng, mơ hồ nhưng vẫn hiện diện. Về âm nhạc, Hamnet sử dụng nhạc nền của Max Richter với chất liệu dây, hợp xướng nữ và những lớp âm thanh rất mảnh, tạo cảm giác như một “nền rung”, một trạng thái tâm lý bao trùm (bản nhạc kinh điển On the Nature of Daylight là biểu tượng về sự mất mát). Trong các cảnh gắn với Agnes, âm nhạc thường lùi ra xa, mơ hồ như vang vọng từ một thế giới khác. Nỗi buồn và nỗi đau trong phim gần như một dư âm hơn là một cao trào.
Dựng phim đi theo một nguyên tắc có thể gọi là “nhịp thở của cây”: những cảnh dài, chậm, rồi đột ngột bị cắt bởi một khoảnh khắc ngắn, một đứa trẻ ngoái nhìn, một cơn gió lùa qua hàng tóc rối, và rồi lại trở về nhịp chậm. Phải chăng, đây cũng là nhịp của ký ức? Chúng ta không nhớ cuộc sống theo những câu chuyện mạch lạc. Chúng ta nhớ theo những mảnh vỡ vụn vặt giữa những vùng mờ đục. Có cảnh Agnes dạy con gái về các loài cây cỏ. Cây hương thảo (rosemary) dùng để làm gì. Để cho vào nước ép táo, đứa con đáp. Không, nó còn dùng để lưu nhớ.
Cuối phim, khi vở kịch Hamlet được diễn lần đầu ở London, những khán giả của Shakespeare khóc trước cái chết của hoàng tử Đan Mạch, Zhao cắt lại về khuôn mặt Agnes đang nhìn lên sân khấu. Cô nhận ra con trai trong nhân vật. Cô nhận ra rằng William đã không mất Hamnet; anh đã biến Hamnet thành ngôn ngữ nghệ thuật, thứ sẽ sống lâu hơn tất cả.
Chúng ta sống trong một thời đại mà mọi thứ được đo bằng sự kết thúc, vòng đời sản phẩm, deadline, chu kỳ tin tức. Chúng ta đã quên mất nhịp điệu của thiên nhiên, nơi không có kết thúc thực sự mà chỉ có chuyển hóa. Chloé Zhao đã làm điều mà tôi không nghĩ có thể làm được trong điện ảnh thương mại: bà làm cho sự im lặng có trọng lượng, làm cho rừng có tiếng nói, làm cho cái chết của một đứa trẻ bốn trăm năm trước trở thành câu hỏi về cách chúng ta đang sống hôm nay, trước những màn hình, với ảo tưởng rằng chúng ta đang kiểm soát thời gian trong khi thực ra chúng ta chỉ đang chạy trốn nó.
Tôi không biết bộ phim này có phải là kiệt tác không. Nhưng ít nhất, nó là một bộ phim trung thực, và sự trung thực, như rừng biết, như Agnes và những người chân nhận sự im lặng biết, là thứ hiếm hoi hơn kiệt tác. Đó là điều mà những bộ phim tốt có thể làm: chúng không cần giải thích cuộc sống, chỉ cần nhắc nhở rằng chúng ta đang sống nó.



