Dòng sách triết: Tại sao lại nở rộ và lên ngôi (1)
Vài nét về sách triết học đại chúng-phổ thông-dẫn nhập, những cái "dễ nuốt" và không hề dễ nuốt
Hôm bữa, nói chuyện với một chị làm xuất bản ở Việt Nam sang chỗ tôi chơi, tôi được biết là dòng sách (dịch) triết học phổ thông (tức là ở một mức đại chúng hơn so với sách dẫn nhập như bộ Very Short Introductions của Ấn quán Đại học Oxford) hiện đang bán khá chạy trong nước, được độc giả lớp trẻ đón nhận nhiệt tình và sốt sắng. Ở góc độ người đọc, đó cũng là một điều đến tự nhiên, khi mà nhiều xu hướng làm sách ở nước ngoài bắt đầu đổ bộ vào sau một quãng chờ vài năm (ở văn học ta có dòng tác phẩm “kể lại” những sự tích Hy-La cổ đại; ở khoa học đại chúng, ta có dòng sách “kể chuyện bằng tranh” hay ELI5 [Explain Like I’m Five]).
Ở góc độ người làm sách tiếng Việt, lấn sân vào mảng triết học (phổ thông-đại chúng-dẫn nhập) cũng là một cách ngăn ngừa rủi ro đến từ bầu không khí xuất bản không còn nới lỏng như trước. Nhưng ngay từ trước cái annus mirabilis của ngành xuất bản Việt (là năm nay) thì nhiều nhà làm sách đã thử làm sách triết học phổ thông rồi, và tương đối thành công; cũng không phải là ngăn ngừa rủi ro gì đâu, mà do thực sự có nhu cầu từ người đọc: giới trẻ thích đọc thứ gì đó triết lý, từ những triết lý nhăng cuội được lồng trong vỏ bọc truyện tình ái (ôi trang tải sách DTV thế mà sập rồi à), kiếm hiệp, gian hùng-hình sự, cho tới thứ triết lý được trình bày có hệ thống, mạch lạc, và thời bây giờ là cần sự sáng tỏ (theo nghĩa visual).
Và cũng nói đâu xa, thời của tôi (cuối 8x), những sách triết đầu tiên tôi đọc ngấu nghiến năm lớp 10, 11 là sách của Trần Thái Đỉnh (triết học hiện sinh, Descartes), trước khi tôi biết đến những trang mạng in lại (đúng hơn là đánh máy lại) sách triết từng dịch ở miền Nam trước đây, hay biết đến những bản in lại (một dạng photo bản chụp nhưng cắt tỉa đẹp hơn) sách triết cũ được bán trong nhà sách Hà Nội ở đường Minh Khai; oái oăm thay là thời bây giờ có lẽ người ta đã rút hết tất cả thứ sách in ấn như vậy ra khỏi thị trường chính thống (lấy ví dụ nhé, ta có hai bản sách cùng một nội dung: bản in-chụp lại phiên bản trước năm 75, và bản in mới, nội dung gần y chang, có lẽ chỉ thêm một chút hiệu đính, sau này).
Đợt đầu năm nay chơi ở nhà hơi bị lâu, tôi có dịp đi lượn lờ vài nhà sách và phát hiện ra khá nhiều dòng sách triết học phổ thông đang được dịch và bày bán. Chẳng hạn ta có NXB Kim Đồng: bộ Ngụ ngôn triết học (10 cuốn), bộ Thưởng thức triết học (12 cuốn), hay Triết học tự cổ chí kim của Masato Tanaka và Tetsuya Saito (Phùng Xuân Trà, Nguyễn Quốc Vương dịch) do anh Hiếu viết lời giới thiệu — cuốn này có tranh minh họa rất bắt mắt.
Hay ở mảng triết học và lịch sử khoa học, ta có dòng “Dẫn nhập ngắn về khoa học” bằng tranh (Alphabooks triển khai dịch, hợp tác với ETS). Vài đầu sách có thể kể như Vật lý hạt, Tâm lý học tiến hóa, Di truyền học biểu sinh, Vô hạn, v.v. Giá từng cuốn như thế này tương đối mềm so với một cuốn truyện tranh in ấn đẹp bây giờ.
À, chưa kể sách dịch từ DK Publishing (một nhà xuất bản Anh nổi tiếng với sách bách khoa và khoa học phổ thông). Ở lứa tuổi nhi đồng (5-11 tuổi) ta thấy những cuốn như Triết học để làm gì? (NXB Kim Đồng); lứa tuổi thiếu niên (11-15 tuổi) ta có Vòng đời (Life Cycles) (ZenBooks & NXB Dân Trí); lứa tuổi nhỡ nhỡ và lớn hẳn thì DK có tới mấy dòng sách bách khoa thư đại chúng, chẳng hạn như Triết học - Khái lược những tư tưởng lớn (Đông A & NXB Dân Trí), hay How Science Works - Hiểu hết về khoa học (Nhã Nam & NXB Thế giới). Sách của DK thường có phong cách trực quan giúp kiến thức khoa học trở nên dễ tiếp cận với đại chúng; sách khoa học dạng này “dễ nuốt”, nhưng vẫn đảm bảo độ chính xác cao.
Tôi cũng vừa mượn cuốn này ở thư viện gần nhà. Hàng mới coóng.
Đây là trang xi-nhê:
Bản gốc tiếng Anh: Ancient Greece. A Visual History (2025). Bản tiếng Đức vừa mới ấn hành năm nay. In và đóng sách do Replika Press, Ấn Độ. Trang xi-nhê cũng cho biết thêm là:
(1) cuốn sách có sự tham gia chuyên môn của Smithsonian (viện bảo tàng ở Mỹ), cụ thể là chuyên gia từ National Air and Space Museum;
(2) có một điều khoản khá đặc biệt: nhà xuất bản cấm phân tích tự động tác phẩm để khai thác mẫu, xu hướng và tương quan theo mục đích text and data mining, căn cứ điều § 44b UrhG của luật bản quyền Đức (Urheberrechtsgesetz – UrhG).
Sách triết học/khoa học phổ thông-đại chúng có vẻ bán chạy hơn hẳn sách dẫn nhập. Lấy ví dụ về sách dẫn nhập: Có những cuốn dịch thuộc dòng Very Short Introductions của Ấn quán Đại học Oxford nhưng hiện nay tương đối khó tìm (chẳng hạn như Dẫn luận về Schopenhauer của Christopher Janaway); có lẽ vì bộ này được nhiều nhà làm; từ 15 năm trước tôi đã thấy lác đác những cuốn nằm trong bộ Tri thức phổ thông của NXB Tri Thức (như Triết học của Edward Craig), quãng vài năm gần đây lại thấy một số đầu sách do Văn Lang Books & NXB Hồng Đức chủ trương làm.

Lý do dòng sách dẫn nhập khó bán là vì… chúng không hề dễ đọc. Gọi là dẫn nhập (introduction) tưởng chừng như dễ bán, nhưng có khi lại làm người mua tưởng bở (và sau đó ghét đéo mua nữa).
Ví dụ, tôi chỉ lấy ngẫu nhiên để bàn về mức độ dễ tiếp cận của tác phẩm triết, cuốn Dẫn Luận Về Foucault, tác giả là Gary Gutting, bản thân ông này cũng là một triết gia ở trường Công giáo Notre Dame, và là một trong những học giả có công lớn nhất trong việc giới thiệu, diễn giải và “dịch” triết học Pháp đương đại sang thế giới Anh-Mỹ. Với cách diễn giải của Gutting, thì cần ở độc giả ít nhất là được làm quen, chưa nói tới việc được đào tạo, theo truyền thống phân tích (analytic philosophy).
Cụ thể hơn là Gutting mang cách đọc của triết học phân tích, tức là người diễn giải ưa việc tái dựng lập luận rõ ràng và đi tìm tính nhất quán (trong khi có những ông triết viết tối mù mù); và khi độc giả biết điều đó thì họ hiểu rằng tác giả của một cuốn sách bàn về một tác giả triết học đôi khi làm giảm vai trò của phong cách viết, tu từ và văn chương, chẳng hạn trong Derrida, Deleuze, hay Foucault.
Một lý do nữa dòng sách dẫn nhập khó bán là vì… dịch không hiểu gì hết. Như đã nói, bản thân một số tác giả triết đã khó đọc (Foucault, Derrida, Deleuze, Levinas, v.v.) — sau thập niên 1960 vốn đã cần những học giả Mỹ như Gutting làm vai trò diễn giải lại (đôi khi làm mềm hóa) triết học Pháp trong thế giới Anh ngữ. Các nhà làm sách ở VN thấy dòng dẫn nhập tưởng dễ bán và dễ dịch cứ thế đâm đầu vào, và họ underestimate công sức cần bỏ ra để dịch một cuốn như vậy cho ra tấm ra món.
Có nhiều lý do cho việc các ông triết gia khó đọc, khó hiểu, khó dịch; mấy ông Đức thì lập luận quá nhiều vế, và đến vế n- thì không biết chủ từ trỏ đến đối tượng nào; những ông Pháp thì hay văn chương, thỉnh thoảng lại thiếu lập luận rõ ràng, hệ thống khái niệm lại quá kỹ thuật, quá hẹp, không mảy may quan tâm đến trước đó người khác dùng thuật ngữ đó theo nghĩa nào, v.v.
Đôi khi, việc làm rõ bản thân đang muốn dùng từ ngữ theo nghĩa nào là hoàn toàn cần thiết (hoặc có nhiều cách để người làm sách bổ túc thêm việc đó), bằng không sẽ phát sinh những cuộc tranh luận bất tận vốn chỉ xuất phát từ một lựa chọn ngữ nghĩa mang tính tùy tiện. Nhiều ông triết lại hay chọn thuật ngữ tùy tiện, dịch giả nước ngoài chọn cách dịch tùy tiện, và dịch giả tiếng Việt lại không hiểu điều này. Thế là ta có một mớ mắc míu.
Ví dụ: Ego hay được dịch là bản ngã, “I” là cái Tôi, “the self” lúc thì là cái tôi, lúc thì là cái tự ngã (lúc thì là bản ngã nốt). Thực ra, ego chỉ đơn giản là từ Latin có nghĩa là “tôi”. Trong nguyên tác tiếng Đức, Freud không dùng thuật ngữ ego mà gọi là das Ich (cái tôi). Đối lập với das Ich là das Es (cái nó), và phía trên là das Über-Ich (cái siêu tôi). Khi dịch bộ Standard Edition sang tiếng Anh, James Strachey đã chuyển ba thuật ngữ này thành các từ gốc Latin: ego, id và superego. Vì vậy, nhan đề Das Ich und das Es của Freud, nếu dịch sát nghĩa, phải là The I and the It (Cái Tôi và Cái Nó), chứ không phải The Ego and the Id.
Việc Latinh hóa các thuật ngữ khiến chúng mang dáng vẻ kỹ thuật và khoa học hơn, nhưng đồng thời cũng làm mất đi phần nào tính gần gũi của những từ đời thường mà Freud cố ý sử dụng trong tiếng Đức. Chẳng hạn, Ich, Es và Über-Ich vốn chỉ là những từ thông dụng mà bất kỳ người Đức nào cũng hiểu ngay. “The Id” trong tiếng Anh thì bố ông nào mà hiểu được.
Nói về cách dịch sang tiếng Việt, từ ngữ triết học trong cách nhìn hệ thống thường có các tiền tố phức tạp đi kèm để phân bậc (hoặc là theo cấp tôn ti, hoặc đơn giản là trật tự có trước-có sau). Postmodernism là hậu-hiện đại, subconscious là hạ-ý thức thì dễ rồi (nhưng sẽ có người bắt bẻ là “tiềm thức”, nếu họ có cái lý của họ). Superman của Nietzsche được dịch là “siêu nhân” (nhưng từ gốc tiếng Đức là Übermensch còn có thể được dịch là overman hay beyond-man). Thế còn supra-, trans- là gì? Cũng là “siêu” nốt. Transcendence vẫn hay được dịch là siêu vượt hay siêu nghiệm.
Lại nói về một từ siêu phàm dùng để dịch nhiều chữ khác nhau
…In-Itself là cái Tự nó, As-Such cũng là cái Tự nó…
Hay một thuật ngữ có nhiều cách dịch khác nhau
…Nichtigkeit là “vô tính”, “thể tiêu cực” (Tuệ Sĩ), “tính vô hiệu vô nghĩa” (Bùi Văn Nam Sơn)…
nhưng vô đối là khái niệm Aufhebung nổi tiếng của Hegel, tôi đếm được trên dưới chục cách dịch: từ “vượt bỏ” (phổ biển nhất), “lột bỏ”, “thăng bỏ”, “hủy bỏ”, “tháo dỡ”, “phủ định biện chứng”, “phủ định của phủ định”, “thăng hoa”, “năng lực thăng hóa”, “hòa giải”, “vượt qua và giữ lại”, v.v. cho tới những cách dịch có phần manh động như “bài trừ”, “thủ tiêu”, “thải hồi”, và tới những chữ mà nói thật tôi không hiểu gì hết (nhưng lại gợi lên một ham muốn nói lái) như “tụ thăng”.
Tức là, không phải cứ sách dẫn nhập là dễ dịch, dễ biên tập. Những người lựa đầu sách để khai thác đã hiểu sai điều này. Người làm sách cần phải quan niệm, rằng đây cũng là sách triết học đúng nghĩa, và nhờ như vậy, theo cách tương ứng, họ cần những người dịch, người biên tập ở mảng đó, có kinh nghiệm, hoặc là cả một bộ sậu có kinh nghiệm và từng làm với nhau, vì biên tập chắc tay gặp người dịch non tay thì cũng không thể biên tập nổi. (Bản thân tôi còn thấy hiệu đính là cách làm vá víu đã lỗi thời; nếu bản dịch không thể dùng được, thì không nên khổ công đi tìm người hiệu đính, mà tốt hơn hết là bỏ bản dịch đó đi và làm một bản dịch mới.)
Điều đáng bàn ở đây không phải là một vài lỗi cụ thể của riêng một vài cuốn sách (vào thời trăm hoa đua nở, như đã kể trên, thì ta cũng không nắm rõ được nhà nào làm dòng nào và kết quả đến đâu), mà là cách làm sách triết học đại chúng-phổ thông-dẫn nhập nói chung. Một cuốn sách dẫn nhập không phải là một cuốn sách “dễ nuốt” chỉ vì nó viết cho người mới đâu; ngược lại, chính vì nó là điểm khởi đầu của độc giả nên mọi lựa chọn về dịch thuật, thuật ngữ và biên tập đều có sức ảnh hưởng lâu dài. Nếu ngay từ đầu người đọc được dẫn dắt bằng một bản dịch thiếu chính xác và thiếu nhất quán, cái bất cập chưa kể là người đọc tiếp thu một cuốn sách được đầu tư dịch vô cùng sơ sài (và kết quả là nhà làm sách bán ế), mà còn là, hơn hết, một hình dung méo mó về cả một mạch tư tưởng.
Nếu phải chọn một cách tiếp cận đúng đắn (trọng chất lượng và tính đến hiệu quả chi phí), thì tôi có thể nói vắn tắt như vầy: các nhà xuất bản cần coi trọng khâu lựa chọn nhân sự chuyên môn ngay từ đầu, thay vì xem dịch thuật và biên tập chỉ là những công đoạn kỹ thuật có thể sửa chữa về sau. Bởi vì với sách triết học, chất lượng không phải là thứ có thể vá víu ở bước cuối (It doesn’t work like that!)
Các bạn có biết là, tuyển biên tập viên ở NXB sách bây giờ, không còn yêu cầu “chắc tay”, mà thường ưu tiên nam giới và dưới 30 tuổi không (ví dụ ở đây)? Tôi nghĩ là để làm việc cho khỏe.
Vài dòng thế mà đã “near email length limit”. Ban đầu tôi chỉ định nói tại sao ngành xuất bản đang cam go, mà giới trẻ lại hồ hởi với sách triết như vậy. Thôi để bài sau.







