Trước tiên cần cắt nghĩa thế nào là NXB (văn chương) độc lập. Tôi không coi, chẳng hạn, W.W. Norton là NXB độc lập đúng nghĩa mặc dù trên giấy tờ đây là nhà xuất bản độc lập lớn nhất nước Mỹ, doanh thu đến hàng trăm triệu đô/năm.
Trong cách hiểu của tôi về “nhà xuất bản văn chương độc lập”, tôi phân biệt giữa độc lập về cấu trúc sở hữu và độc lập về sứ mệnh xuất bản (mỗi khi mở start up, người ta luôn có vision). Norton dù độc lập về pháp lý (không thuộc Big Five1, thuộc sở hữu nhân viên2), nhưng với doanh thu khủng và danh mục đa dạng từ sách thương mại đến giáo khoa, nhà này cần được xem là một “tập đoàn xuất bản”; và riêng trong ngạch xuất bản, lợi nhuận và quy mô (lớn) đặc biệt chi phối quyết định biên tập.
Tôi sẽ điểm qua vài NXB tôi xem là độc lập và đáng chú ý trong giới độc giả Anh ngữ (có lẽ phải cần một series bài). Ví dụ, Deep Vellum và Fitzcarraldo là những nhà xuất bản độc lập về cả sở hữu lẫn vision: họ không thuộc tập đoàn lớn, và hoạt động với triết lý “xuất bản tác giả, không phải sách”, tức là sẵn sàng chấp nhận rủi ro tài chính để duy trì danh mục văn học thử nghiệm, dịch thuật. (Ở Việt Nam, xét về mặt “danh mục” để làm sách, ta có thể nhắc đến Nhã Nam thời kỳ đầu và Tao Đàn; nếu tính cả mảng phi hư cấu thì có Phan Books; nhưng đến annus mirabilis là năm nay thì thôi quên hết đi.)
Ta thấy sự khác biệt nằm ở mô hình kinh tế (điểm này thể hiện rất rõ trong ngạch tạp chí học thuật, sẽ bàn trong bài khác) và tiêu chí lựa chọn sách. Trong khi Norton phải cân bằng giữa chất lượng và doanh thu để duy trì cạnh tranh với Big Five, thì Deep Vellum (phi lợi nhuận; Mỹ) và Fitzcarraldo (lợi nhuận nhưng quy mô nhỏ, chỉ vài nhân viên toàn thời gian; Anh) có thể ưu tiên: giá trị nghệ thuật quan trọng hơn tiềm năng thương mại.
Và trong vai trò người đọc, tôi cũng ưu tiện chọn sách từ các NXB như vậy: họ chịu đánh đổi lợi nhuận để bảo tồn và phát triển văn học thử nghiệm — chấp nhận rủi ro với những tác phẩm có cách kể mới lạ, hoặc tác giả đến từ các cộng đồng bên lề (LGBTQ+, Latinx, văn học Phi, Á).
Độc lập để xuất bản khác đi
Pushkin Press
Trụ sở tại London, thành lập năm 1997 bởi Melissa Ulfane với vision ban đầu là đưa văn học dịch từ khắp thế giới đến độc giả Anh ngữ. Pushkin Press nổi tiếng nhờ “khôi phục” các tác phẩm kinh điển hiện đại ít được biết đến của thế kỷ 20 — qua cách tái dịch, tái bản các tác giả về sau ít được đọc hoặc đã out of print, đặc biệt là Trung Âu và văn học lưu vong. Nhờ vision ấy mà NXB này đã góp phần làm sống lại mối quan tâm của độc giả (nay ảnh hưởng đã mở rộng ra ngoài giới Anh ngữ) đối với các tác giả như Stefan Zweig và Ernst Lothar (Áo), Sándor Márai và Antal Szerb (Hungary), Paul Morand (Pháp), Gaito Gazdanov (Nga, nhưng trong hàng ngũ Bạch Vệ).
(Tên “Pushkin” thực ra không phải để tôn vinh nhà văn Nga Pushkin, mà được đặt theo tên con mèo của người sáng lập. Vì thế, NXB này không liên quan gì đến Nga cả như nhiều người lầm tưởng.)
Năm 2012, Pushkin Press được bán cho Adam Freudenheim (cựu biên tập viên Penguin Classics) và Stephanie Seegmuller, hai người đã mở rộng danh mục xuất bản sang văn học đương đại quốc tế, đồng thời ra mắt imprint sách thiếu nhi Pushkin Children’s Books vào năm 2013. Sau đó, Pushkin Press tiếp tục phát triển mạnh và giật giải “Independent Publisher of the Year” tại British Book Awards năm 2022. Gần đây nhà này còn mạnh tay mua lại nhiều nhà xuất bản độc lập khác như Peter Owen Publishers, Angel Classics, và Gallic Books.
Có lẽ quan trọng nhất là bước mua lại Steerforth Press (Mỹ) năm 2024. Steerforth Press ở Mỹ nên bước logic là Pushkin Press sẽ phải rà soát lại chiến lược biên tập, marketing, và phân phối tại thị trường Mỹ (rất rộng, và ngày càng cởi mở hơn với văn học dịch). Steerforth Press thành lập năm 1994 và rất mạnh về narrative nonfiction, thể loại kết hợp giữa báo chí điều tra, lịch sử, true crime, và ký sự văn học dành cho độc giả đại chúng.



Trong những đầu sách mới ra của nhà này, tôi đang đợi đọc The Fateful Hours của Volker Ullrich, dịch từ bản gốc tiếng Đức (Schicksalsstunden einer Demokratie; các bạn có thể gúc, bìa bản tiếng Đức thiết kế xấu hơn hẳn). Sách kể về thời khắc cuối trong cuộc đoạn trường của Cộng hòa Weimar, nền dân chủ đầu tiên của Đức (1919-1933). Weimar sụp đổ mở đường cho Hitler và Đệ Tam Đế chế. Ullrich lập luận rằng sự sụp đổ này không phải là định mệnh lịch sử mà là kết quả của hàng loạt quyết định sai lầm, cơ hội bị bỏ lỡ, và sự thỏa hiệp của các chính trị gia ôn hòa trước phái cực đoan.
Nói không phải “định mệnh” là vì, dù phải đối mặt với đa khủng hoảng (lạm phát phi mã, bạo lực chính trị, xâm lược từ nước ngoài và Đại suy thoái), nền cộng hòa này vẫn tồn tại được và chỉ sụp đổ vào tháng Giêng năm 1933 khi Hitler được bổ nhiệm làm thủ tướng. Ullrich sử dụng thư từ, hồi ký, bài báo và các nguồn tư liệu khác để tái hiện chi tiết “giờ phút định mệnh” mà lẽ ra lịch sử đã có thể rẽ theo hướng khác.
Ông mô tả Hitler thời kỳ đầu như một “sinh vật mặc đồ ngủ yếu đuối” bị giới tinh hoa Đức đánh giá thấp, và cho là các đảng phái trung dung đã chọn thỏa hiệp thay vì đối đầu, tạo điều kiện cho phe cực hữu chiếm quyền lực. Tôi đã đọc một cuốn khác cũng thuộc dạng “điểm lại thời khắc” sau cùng của Weimar là The Gravediggers và thấy rất kịch tính; nhưng dĩ nhiên Volker Ullrich là nhà sử học có thẩm quyền cao hơn hẳn (ông từng học văn sử triết ở ĐH Hamburg.)
Lại nói thêm về mặt khai thác của cuốn này (The Fateful Hours): đây là trường hợp đồng xuất bản (co-publishing) giữa W. W. Norton và Pushkin Press. Dạng khai thác này rất phổ biến; nhiều khi ta bắt gặp cùng một nội dung cuốn sách nhưng ở thị trường Anh và Mỹ lại có bìa khác nhau, nhan đề (hơi) khác nhau, mã số ISBN khác nhau và tên NXB khác nhau. Ở trường hợp cuốn này thì Norton giữ bản quyền xuất bản Bắc Mỹ còn Pushkin ở Anh và Commonwealth. Mô hình “territorial rights split” này, tức mỗi bên khai thác một lãnh thổ, không bên nào mua bản quyền từ bên kia, ta sẽ bắt gặp rất nhiều (một khi ta bắt đầu để ý).
Nhưng vì đây là sách dịch, nên phải hiểu việc xử lý bản thảo thế nào? Dịch và xuất bản một cuốn sách sử học 400 trang khá tốn kém. Hai nhà xuất bản có thể phải cùng chia chi phí dịch thuật, biên tập, và (có lẽ là cả) marketing. (Tất nhiên phải cùng một người dịch và biên tập, không thì lộn tùng phèo hết; họ chỉ thay đổi một ít về spellings thôi.) Mỗi bên sẽ khai thác thị trường mình am hiểu nhất và có hệ thống phân phối-phát hành tốt nhất. Do có bộ phận bản quyền lớn hơn nên khả năng cao Norton là bên đàm phán bản quyền gốc với tác giả/nhà xuất bản Đức → Pushkin nhận bản thảo dịch từ Norton (hoặc cùng thuê dịch giả Jefferson Chase) và tự biên tập (nhẹ nhàng thôi), thiết kế bìa, và phân phối tại thị trường Anh.
Việc đồng xuất bản này khiến thị trường (và độc giả) Anh ngữ có lợi thế hơn hẳn các nước khác (thị trường Đức ngữ chẳng hạn, quy mô nhỏ hơn nhiều). Một ví dụ khác, sách của một tác giả mới (thuộc dòng queer) của Pushkin Press, A Last Supper of Queer Apostles: Selected Essays của Pedro Lemebel cũng là đồng xuất bản giữa Penguin Classics (Mỹ) và Pushkin Press (Anh). Dùng cùng một bản dịch nhưng rõ ràng hai nhà này có thể chia sẻ rủi ro, vì dịch và xuất bản một tác giả Mỹ Latinh ít được biết đến ở thị trường Anh-Mỹ khá hên xui. Văn học dịch các nước khác chưa thẩm thấu sâu vào văn hóa đọc Anh ngữ (ngoài phạm vi các NXB đại học), nếu so với thị trường Pháp chẳng hạn.
Fitzcarraldo Editions
Anh này thì nói ngắn thôi vì đã quá nổi rồi, sau nhiều phi vụ các tác giả do nhà này khai thác giành Nobel hay giải Booker mấy năm liền.
Năm 2014, cái tên này chưa là gì cả. Một nhà xuất bản độc lập mới mở ở London, do Jacques Testard sáng lập, ra mắt bằng tiểu thuyết Zone của Mathias Énard, một tác phẩm dài 521 trang được viết như một câu duy nhất (nghe nói đã có bản thảo dịch tiếng Việt!). Chưa đầy một thập niên sau, Fitzcarraldo đã xuất bản tác phẩm của bốn chủ nhân giải Nobel Văn chương: Svetlana Alexievich (2015), Olga Tokarczuk (2018), Annie Ernaux (2022) và Jon Fosse (2023). Nhiều người sẽ thích kể câu chuyện này như phép màu, như thể… một nhà xuất bản nhỏ đã may mắn vớ được vé số bốn lần.
Nhưng tất nhiên, làm sách trong thời đại này không thể ăn may đến bốn lần như vậy (Người đọc thay đổi, triết lý xuất bản cũng phải thay đổi).
Một trong những điểm mấu chốt để Fitzcarraldo thành công là có concept mạnh khâu design. Trong khi phần lớn nhà xuất bản liên tục đổi bìa, đổi font, đổi layout để chạy theo thị trường và giành lấy sự chú ý của người đọc, Fitzcarraldo lại làm điều ngược lại đến mức gần như cực đoan. Họ cố ý không thay đổi bìa (chỉ có hai format xanh/trắng), và chính sự kiên định này và chất lượng sách đã tạo nên sức hút. Sự nhất quán của Fitzcarraldo giống như Gallimard ở Pháp, Suhrkamp ở Đức, NYRB ở Mỹ (có nhắc đến ở đây): những nhà xuất bản mà chỉ cần nhìn hình thức cuốn sách là đã cảm thấy một lời cam kết về chất lượng.
Lần nào đi Berlin tôi cũng phải ghé Dussmann ở Mitte (ngay dưới bến Friedrichstraße), vào quầy tiếng Anh ở sâu bên trong, lên tầng hai, có bàn bày sách của Fitzcarraldo ở đó.


Dalkey Archive Press (đã bị mua lại)
Dalkey Archive xuất thân là một tổ chức phi lợi nhuận 501(c)(3)3 của Mỹ, chuyên xuất bản văn học dịch, tiểu thuyết thử nghiệm, thơ và phê bình văn học. Thành lập năm 1984 bởi John O’Brien (1945-2020) tại Chicago, quê nhà ông này (nhưng ông gốc Ai-len), Dalkey Archive bắt nguồn từ tạp chí văn học Review of Contemporary Fiction do O’Brien sáng lập để quảng bá các tác giả bị giới phê bình chính thống bỏ qua. Vision ban đầu của nhà xuất bản là “khôi phục và duy trì bản in vĩnh viễn” cho các tác phẩm văn học quan trọng nhưng đã tuyệt bản do áp lực thị trường, với triết lý rằng văn học thử nghiệm và quốc tế cần một “kho lưu trữ” (archive) tồn tại ngoài logic thương mại.
Sau khi John O’Brien qua đời năm 2020, Dalkey Archive được Deep Vellum (nhà xuất bản độc lập khác có trụ sở tại Dallas, Texas) mua lại cuối năm 2020 và tái khởi động vào mùa xuân 2022 như một imprint riêng biệt. Hiện nay, Dalkey Archive có trụ sở tại Đại học Illinois ở Urbana-Champaign (từ 2025), duy trì danh mục hơn 300 đầu sách đang in và xuất bản khoảng 30 sách mới mỗi năm, bao gồm văn học Mỹ, Anh, Đông Âu, Pháp, Đức, Nhật, Latinh, Nga, v.v. Nhà này còn nổi tiếng với các bộ sách như Best European Fiction (hàng năm), hay Context (tạp chí).


Tin tức nổi bật nhất là hồi tháng Tư, Dalkey Archive in lại The Tunnel của William H. Gass. Cuốn tiểu thuyết này đã tuyệt bản trong gần hai thập kỷ. Knopf (thuộc Random House) xuất bản lần đầu năm 1995 nhưng vài năm sau đã để sách tuyệt bản (độc giả chỉ có thể tìm thấy sách cũ với giá cao ngất ngưởng trên AbeBooks hay eBay). The Tunnel được Gass viết trong 26 năm (1969-1995), nhiều đoạn trích đăng trên các tạp chí văn học như Paris Review, Kenyon Review, và Esquire (tôi từng làm ở ấn bản tiếng Việt của tờ này). Ban đầu, sách được ký hợp đồng với nhà xuất bản Ticknor and Fields (ở Boston), nhưng khi bản thảo hoàn thành năm 1992, họ hủy hợp đồng vì độ dài và tính thử nghiệm của tác phẩm e là khó bán được.
***
Lưu ý: Dalkey Archive Press vẫn tồn tại, nhưng với tư cách là một imprint (nhãn xuất bản) thuộc Deep Vellum, không còn là một nhà xuất bản độc lập riêng biệt như trước. Và Deep Vellum được xem là một nhà xuất bản độc lập, cụ thể nó là một tổ chức phi lợi nhuận 501(c)(3) (ở Texas). Ta sẽ nói đến ngay sau đây.
Tôi nhắc đến Dalkey Archive Press vì nhà này lâu đời và có truyền thống hơn (toàn bộ danh mục sách của họ ở đây), mặc dù đã được Deep Vallum mua lại.
Deep Vallum
Thành lập năm 2013 bởi Will Evans (gốc North Carolina, tốt nghiệp thạc sĩ văn học Nga tại Đại học Duke) với vision “đưa thế giới vào cuộc đối thoại thông qua văn học”. Tên “Deep Vellum” là một cách chơi chữ kép: vừa ám chỉ “vellum” (giấy da cao cấp dùng trong xuất bản), vừa gợi nhớ khu phố Deep Ellum ở Dallas, nơi nhà xuất bản đặt trụ sở. Từ một văn phòng nhỏ trên phố Commerce, Evans đã mở rộng ra thành nhà xuất bản + nhà sách (Deep Vellum Books, mở năm 2016) + và không gian tổ chức sự kiện, đã host rất nhiều sự kiện văn học từ 2016 đến nay.
Hiện tại, Deep Vellum là một trong những nhà xuất bản văn học dịch lớn nhất ở Mỹ, với sáu imprint: Dalkey Archive Press (văn học thử nghiệm và kinh điển), Open Letter (dịch thuật từ Đại học Rochester, gia nhập 2025), Phoneme Media (văn học Mỹ Latinh và Caribbean), Fum d’Estampa (văn học Catalan, mua lại 2025), La Reunion (văn học đương đại), và A Strange Object (tiểu thuyết thử nghiệm). Nhờ mô hình phi lợi nhuận, Deep Vellum có thể xuất bản các tác phẩm có giá trị nghệ thuật và xã hội (đúng mảng đăng ký) mà không cần lo về doanh thu, đồng thời vận động cho văn học dịch và đa dạng hóa ngành xuất bản Mỹ.
Vài NXB độc lập đã bị mua lại
Peter Owen Publishers (Anh): thành lập năm 1951, trụ sở London, bị Pushkin Press mua lại năm 2022
Head of Zeus (Anh): thành lập 2012 ở London; Bloomsbury mua lại năm 2021
John Murray (Anh): thành lập tận 1768, ở London; từng xuất bản Lord Byron, Jane Austen, Charles Darwin, Arthur Conan Doyle. Đến lúc bị bán, Publishers Weekly gọi đây là NXB độc lập lâu đời nhất nước Anh. Hodder Headline mua lại năm 2002; sau đó Hodder Headline lại về tay Hachette. John Murray hiện còn tồn tại dưới dạng imprint.
The Harvill Press (Anh): mạnh về văn học dịch, từng xuất bản Alexander Solzhenitsyn và nhiều tác giả châu Âu. Random House mua lại năm 2002, kết thúc thời kỳ hoạt động độc lập; tên Harvill sau đó được duy trì trong hệ thống Random House. Việc Harvill và John Murray cùng mất độc lập trong năm 2002 từng được xem như dấu hiệu rất rõ của quá trình tập trung hóa ngành xuất bản Anh.
Virago Press (Anh): thành lập 1973, một trong những NXB feminist quan trọng nhất của Anh (từng in Maya Angelou, Adrienne Rich, v.v.), nổi tiếng với việc khôi phục các tác phẩm của nữ nhà văn bị lịch sử văn học bỏ quên. Virago được bán cho Little, Brown năm 1996 và trở thành imprint; Little, Brown sau đó thuộc Hachette.
Black Sparrow Press (Mỹ): thành lập 1966 tại Los Angeles bởi John Martin, từng rất nổi ở Mỹ vì gắn đặc biệt với Charles Bukowski, cùng John Fante và Paul Bowles. Năm 2002, Martin bán quyền đối với Bukowski, Bowles và Fante cho Ecco/HarperCollins và phần lớn backlist còn lại cho David R. Godine.
Dalkey Archive Press (Mỹ): thành lập 1984, một trong những NXB văn học thể nghiệm và văn học dịch quan trọng nhất của Mỹ. Năm 2020, Dalkey sáp nhập vào Deep Vellum; từ 2021, Dalkey Archive Press trở thành một imprint của Deep Vellum, thay vì một NXB độc lập.
Big Five trong xuất bản thương mại gồm: Penguin Random House, thuộc sở hữu Bertelsmann (Đức); HarperCollins thuộc NewsCorp (Rupert Murdoch, Mỹ-Úc); Simon & Schuster trước thuộc Paramount Global, nay thuộc KKR (private equity, Mỹ), bán năm 2023 giá 1,6 tỷ đô; Hachette Book Group thuộc Hachette Livre (Pháp, Lagardère); và Macmillan Publishers, thuộc Holtzbrinck Publishing Group (Đức).
Norton là công ty thuộc sở hữu của nhân viên (employee-owned) từ năm 1954, hoạt động vì lợi nhuận nhưng không bị kiểm soát bởi tập đoàn lớn hay cổ đông bên ngoài.
501(c)(3) là một điều khoản trong Bộ luật Thuế vụ Liên bang Hoa Kỳ (Internal Revenue Code) quy định về các tổ chức phi lợi nhuận được miễn thuế thu nhập liên bang. Các tổ chức 501(c)(3) phải hoạt động vì mục đích từ thiện, tôn giáo, giáo dục, khoa học, văn học, hoặc các mục đích công cộng khác, không được phân phối lợi nhuận cho cá nhân hay cổ đông. Đổi lại, họ được miễn thuế và người quyên góp có thể khấu trừ khoản đóng góp vào thuế thu nhập của mình.


