Sự lỗi thời của mô hình người làm sách là giám tuyển
Cái chết (nếu có) là cách tiếp cận người đọc
Đọc văn học dịch, bây giờ đã khác trước. Cách đây dăm hai mươi năm, chờ đợi thấp thỏm mãi mới có một tác giả mình yêu thích được dịch, và hãn hữu hơn, được in sách ở một nhà xuất bản chính thống. Còn bây giờ, sách dịch nhiều vô kể. Các tác giả từ cổ điển đến cận hiện đại được dịch hầu như không thiếu một ai. Có quá nhiều lựa chọn, và sách thì ngày một đắt hơn (đến mức vắt kiệt ví), và thế là ta không biết chọn gì để đọc.
Những nhà làm sách dịch vẫn nở rộ; song, vẫn còn thiếu một thứ gì đó, một sự trao đổi, cảm thông, thấu hiểu người đọc. Bao dung với người đọc. Tha thứ cho người đọc. Tìm sâu một người đọc. Sự thừa mứa các đầu sách hầu như làm cho người đọc và người làm sách hôm nay quên mất điều ấy — việc hàn gắn cái hố chông chênh giữa những người tư duy làm ra cuốn sách và người cầm nó lên để đọc.
Sách dịch không chết
Trước tiên, sách dịch giờ không thiếu. Nếu so với cách đây hai mươi, ba mươi năm.
Chừng chục năm trước, tôi mới hỏi một chị làm sách bên Tao Đàn. À, hay là em dịch Max Frisch nhé, em đọc Homo Faber thấy vô lắm. Chị ấy mới bảo, dịch làm gì, cuốn đấy đã có bản dịch rồi. Đó là cuốn như hình dưới đây. Tôi chưa từng thấy bản sách này bao giờ.

Hay là cách đây mấy tháng, sau khi viết bài điểm sơ vài cuốn tôi đọc trong năm 2025 cho nhà Z, tôi mới phát hiện ra The Visit of the Royal Physician đã từng có bản dịch tiếng Việt, tên là “Chuyến viếng thăm của ngự y Hoàng Gia”, nhưng tôi cũng chưa bao giờ thấy bản in cuốn này trong đời. Lục tìm toàn cõi mạng cũng không thấy hình luôn (mặc dù sách in năm 2009, tức là mới gần đây).
Enquist, Per Olov. Chuyến viếng thăm của ngự y hoàng gia: Tiểu thuyết lịch sử / dịch bởi Đinh Thế Lộc. – Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học, 2009. – 417 tr.
Tôi đọc bản tiếng Anh. Và sục sạo một lúc tôi mới phát hiện ra là phim chuyển thể mình cũng đã coi rồi luôn, mà không nhớ: A Royal Affair (2012), có cả Mads Mikkelsen lẫn Alicia Vikander đáng yêu đóng.1 Cảnh khiêu vũ trong phim rất đáng nhớ. Đạo diễn phải quay liền ba cảnh ballroom trong một đêm duy nhất để dùng ánh nến thật (nhà làm phim không muốn ánh sáng tự nhiên phá hỏng hiệu ứng ánh nến).
Một vài phát hiện như vậy, cộng mới mấy lần sục sạo nhà sách ở Việt Nam gần đây, củng cố cho tôi niềm tin rằng: Rất rất nhiều thứ, nhiều trường phái tác giả cả hay ho lẫn không hay ho lắm đều đã có “dấu ấn” dịch ở Việt Nam; có thể không triệt để, nhưng đều đã từng có mặt. Tôi thử điểm qua sơ sơ, không theo thứ tự hay thị hiếu nào cả:
Pensées của Pascal. Đã có. Ebook lậu cũng có luôn.
Pascal, Blaise. Pensées – Suy tưởng / dịch bởi Quách Đình Đạt. – Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2019. – 391 tr.
Sách của nhà vật lý Carlo Rovelli. Đã dịch tới 5-6 cuốn, có thể kể:
Rovelli, Carlo. Thực tại không như ta tưởng: Hành trình đến hấp dẫn lượng tử / dịch bởi Phạm Văn Thiều, Phạm Thu Hằng. – T.P. Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ, 2021. – 276 tr.
Rovelli, Carlo. 7 bài học hay nhất về vật lý / dịch bởi Nguyễn Nguyên Hy. – Hà Nội: Alpha Books & Nhà xuất bản Thế Giới, 2018. – 164 tr.
Elizabeth Kolbert, ký giả The New Yorker chuyên viết về môi trường, cũng có hai cuốn được dịch (nhiều hơn thì tôi không biết):
Kolbert, Elizabeth. Đợt tuyệt chủng thứ sáu (The Sixth Extinction) / dịch bởi Trần Trọng Hải Minh. – Hà Nội: Nhã Nam & Nhà xuất bản Tri Thức, 2023. – 461 tr.
Kolbert, Elizabeth. Dưới bầu trời trắng: Tương lai của tự nhiên và con người trong kỷ nguyên biến đổi khí hậu / dịch bởi Hà Hường. – Thành phố Hồ Chí Minh: Nhã Nam & Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2024. – 356 tr.
Dưới bầu trời trắng có chương đầu rất hay về cá chép. Elizabeth Kolbert viết về loài cá chép châu Á2, một sinh vật du nhập đã làm đảo lộn hệ sinh thái sông ngòi ở Mỹ. Kolbert mô tả cách các nhà khoa học và kỹ sư phải “chiến đấu” với con cá này bằng đủ biện pháp, từ hàng rào điện cho đến kế hoạch can thiệp sinh học, tạo nên một bức tranh nghịch lý: con người dùng công nghệ để sửa sai cho những sai lầm công nghệ trước đó. Qua câu chuyện cá chép, Kolbert đặt ra câu hỏi về mối quan hệ của con người với tự nhiên: chúng ta có thể “sửa” thiên nhiên đến mức nào trước khi đánh mất ý nghĩa của chính tự nhiên ấy.
Lịch Sử Chiến Tranh Peleponnese của Thucydides cũng đã xuất hiện.
Thucydides. Lịch sử chiến tranh Peleponnese / dịch bởi Takya Đỗ, Nguyễn Chí Hoan, Nguyễn Chí Hiếu. – Hà Nội: Alpha Books & Nhà xuất bản Thế Giới, 2017. – 751 tr.
Sách dịch không chết. Nó chưa bao giờ ở xa sự ngắc ngỏm như hiện nay. Nhưng thay vì tập trung ở một số đầu mối (nhà làm sách lẫn kênh phân phối), thị trường sách dịch bây giờ dàn đều. Đôi khi nó giấu mình rất kỹ ở những kênh đặc thù (ở một vài fan page trên Facebook, hay một vài hội nhóm không chuyên, làm sách không bản quyền). Cả một thị trường ấy giấu mình kỹ đến nỗi, nếu người đọc thông thường lọt vào một kênh phân phối truyền thống như nhà sách Fahasa, họ ắt sẽ tưởng thị trường đó teo tóp, chỉ còn nheo nhúm, bị đánh bật, hấp hối và kiệu quệ rồi.
Nhìn thuần túy ở bề mặt của thị trường, có lẽ chưa bao giờ sách dịch lại phong phú như hiện nay. So với hai hay ba thập niên trước, khi việc tiếp cận văn học thế giới còn phụ thuộc vào số ít nhà xuất bản và những dự án dịch thuật kéo dài nhiều năm, hiện nay khoảng cách ấy gần như không còn. Từ các tác giả cổ/kinh điển đến những cây bút đương đại, từ tiểu thuyết văn chương đến phi hư cấu, từ châu Âu, Mỹ đến Đông Á, Mỹ Latinh, hầu như mọi khu vực và mọi dòng văn học đều có mặt trên kệ sách tiếng Việt.
Những cuốn sách từng chỉ tồn tại như những cái tên được truyền miệng trong giới đọc ngoại văn nay đã được dịch và in tương đối nhanh chóng (László Krasznahorkai, Diêm Liên Khoa hay Han Kang). Nếu chỉ nhìn vào số lượng đầu sách, có thể nói rằng người đọc Việt Nam hôm nay đang sống trong một thời kỳ tiếp cận văn học thế giới rộng mở hơn bao giờ hết.
Người đọc thay đổi, triết lý xuất bản cũng phải thay đổi
Trong một thời gian dài, hoạt động xuất bản, đặc biệt là văn học dịch, vận hành trên một tiền đề gần như mang tính nhân văn cổ điển (humanist philosophy): nhà xuất bản tin rằng mình có thể, và nên, thuyết phục người đọc rằng một cuốn sách nào đó là điều họ cần đọc. Người làm sách, người làm ra sản phẩm, trong vô vàn lựa chọn, giúp đem lại một lựa chọn có ý nghĩa. Họ góp phần định hình đời sống tinh thần của xã hội. Vai trò của nhà xuất bản khi ấy không hẳn là trung gian thương mại.
Ở trên, tôi đã cố ý viết dòng metadata theo công thức, “Nhã Nam & Nhà xuất bản Tri Thức”, chẳng hạn. Tức là, khác với ở các nước, công ty làm sách (chứ không phải nhà xuất bản) như Nhã Nam hay Alpha Books trở thành người giám tuyển văn hóa, i.e., người đầu tư vào giá trị dài hạn, vào chiều sâu concept, vào khả năng “đưa độc giả đi đâu đó”.
Nhưng khoảng mười lăm năm trở lại đây, văn học dịch ở Việt Nam dường như rơi vào một trạng thái bế tắc kéo dài: số lượng đầu sách tăng lên, nhưng niềm tin thẩm mỹ suy giảm (kéo theo giá sách tăng lên chóng mặt vì mất sức mua); thị trường sôi động bề mặt qua rất nhiều hội chợ sách, phiên giảm giá sâu, qua các kênh như Tiki, nhưng cái sense về dẫn dắt và định hướng thì ngày càng mờ nhạt. Cú bế tắc này có lẽ không phải là vấn đề cung-cầu. Nó cho thấy gãy vỡ trong mô hình “giám tuyển” (curation) và cách nhà xuất bản tiếp cận người đọc ở một thời đại mà người đọc đã thay đổi về căn bản.
Sự thay đổi ấy nằm ở chính trải nghiệm đọc. Khi sách còn hiếm, mỗi bản dịch xuất hiện gần như mang theo một lời hứa hẹn; không nói suông, đây là cánh cửa hiếm hoi dẫn đến một thế giới khác. Người đọc ngóng chờ, tìm kiếm, và vì thế mà mối quan hệ giữa cuốn sách và người đọc có một sức “căng” đặc biệt. Nhưng khi nguồn sách trở nên dồi dào, thậm chí số đầu sách dư thừa, trải nghiệm ấy cũng thay đổi. Việc đọc dần dà được tổ chức quanh sự lựa chọn (chứ không còn nằm quanh độ khan hiếm). Mà lựa chọn đôi khi quá nhiều sẽ dẫn đến tê liệt. Ở bề mặt ta thấy hớp hồn vì có bao nhiêu cuốn sách được dịch. Nhưng ở tầng sâu, vấn đề sẽ là: làm sao để những cuốn sách ấy thực sự gặp được người đọc của mình.
Minh bạch quá trình chọn sách (editorial transparency)
Với sức mua ảm đạm hiện nay, nhà nào cứ ra sách tằng tằng như máy khâu có thể lại là dấu hiệu ngắc ngoải, hay dấu hiệu của sự bơ vơ, lạc lối. Một ý tưởng tôi nghĩ giờ đây người đọc đang cần, có thể là sự minh bạch trong cách những cuốn sách ấy được chọn. Trong một môi trường mà lựa chọn đã trở nên quá dồi dào, người đọc khó có thể tin vào những lời khẳng định ngắn gọn trên bìa sách hay những khẩu hiệu quảng bá quen thuộc (“Một Đông Ki Sốt mới của Nhật Bản”). Họ cần câu chuyện đằng sau cuốn sách: vì sao nó được chọn để dịch, nó xuất phát từ một mối quan tâm nào của người làm sách, và có thể mở ra những hướng suy nghĩ gì cho người đọc hôm nay.
Vì thế, quá trình “giám tuyển” (vốn diễn ra khá kín đáo trong nội bộ nhà xuất bản) cần được đưa ra ánh sáng. Khi người đọc nhìn thấy logic lựa chọn ấy, họ sẽ bắt gặp cả một hệ ý tưởng, một lộ trình đọc đang được gợi mở. Sự minh bạch theo nghĩa đó là cách để khôi phục lại mối liên hệ giữa người làm sách và người đọc trong một thị trường nơi niềm tin thẩm mỹ (các khả năng thẩm mỹ/chi phí vật chất của sách) đã suy sụp nhiều.
Ở những thị trường lớn, minh bạch trong lựa chọn là chiến lược xây dựng lòng tin. Chẳng hạn, nhà xuất bản Fitzcarraldo Editions ở Anh (danh tiếng lên rất nhanh những nằm gần đây với các tác phẩm của Olga Tokarczuk, Jon Fosse, Mathias Énard hay Annie Ernaux) luôn công bố rõ triết lý chọn sách: họ tìm những tác giả giúp nới rộng biên giới của tiểu thuyết và tiểu luận. Mỗi cuốn khi ra đời đều có lời giới thiệu dài (có thể trên website), giải thích vì sao nhóm biên tập tin vào tiếng nói ấy ở thời điểm cụ thể ấy.
Tương tự, New Directions (Mỹ) hay Gallimard (Pháp) cũng giữ truyền thống “series curation”, song coi việc chọn sách như một hành vi phê bình và khai sáng hơn là thuần túy giao dịch. Những ví dụ này cho thấy, trong bối cảnh thừa mứa thông tin, người đọc không những quan tâm đến sản phẩm (đã qua rồi thời còn chụp cuốn sách sao cho đẹp), mà còn đến cơ duyên, tâm thế của người làm sách. Và khi lý do được chia sẻ rõ ràng, cuốn sách không còn đơn độc trên kệ. Nó sẽ gắn với một đường hướng tư tưởng, một project văn hóa mà người đọc có thể tin theo.
Ở Pháp, Gallimard là ví dụ điển hình cho việc một nxb có thể duy trì lời hứa biên tập hơn một thế kỷ mà không cần phải chạy theo xu hướng. Mỗi tủ sách, như Bibliothèque de la Pléiade hay Collection Blanche3, đều được định nghĩa qua tôn chỉ rõ ràng: lưu trữ tinh hoa văn học Pháp và thế giới, hay giới thiệu tiếng nói mới có giá trị thẩm mỹ và nhân bản riêng biệt.
Khi Gallimard đồng ý in cuốn Les Particules élémentaires (1998) của Michel Houellebecq, quyết định này gây sốc trong giới xuất bản Pháp. Bản thảo từng bị 7 nhà xuất bản khác từ chối vì nội dung quá khiêu khích: nói về nhân bản người (nhân vật Michel chuyển đến Ireland nghiên cứu, chứng minh mọi loài phụ thuộc sinh sản tình dục đều phải chết, nên nhân bản tạo loài người mới sẽ sống mãi qua clone), sự suy đồi tình dục và cái nhìn bi quan về xã hội hiện đại. Nhiều đồng nghiệp cho rằng sách quá gây tranh cãi nên không dám nhận, nhưng trưởng ban biên tập Hubert Tesquet nhìn ra tính dự báo, đánh cược và biến nó thành hiện tượng đoạt Prix Novembre, bán hơn 2 triệu bản4.
Chịu in Hạt cơ bản của Michel Houellebecq, nghĩa là nhà Gallimard đang thể hiện quan điểm biên tập của mình: văn học đương đại cần DÁM đối diện với khủng hoảng tinh thần của tính hiện đại.
Còn ở Mỹ, New Directions lại đại diện cho một mô hình linh hoạt “xuất bản tức là đối thoại”. Từ khi James Laughlin sáng lập năm 1936 (lúc còn là sinh viên đại học ở Harvard), họ đã xác lập đường hướng rõ ràng: in những tác phẩm thách thức khuôn mẫu, kể cả thị trường chưa sẵn sàng. New Directions là nhà đầu tiên đưa Kafka, Borges, hoặc Clarice Lispector đến với độc giả Mỹ, và sau này tiếp tục giới thiệu W.G. Sebald, Roberto Bolaño. Mỗi lần phát hành, họ thường đăng lời giới thiệu của ban biên tập, kể lại quá trình gặp gỡ với tác phẩm và lý do chọn dịch. Chính qua “giọng” của người chọn sách ấy, người đọc cảm thấy mình đang được dự phần một khám phá.
Dưới đây là vài cuốn của nhà New Directions tôi có trong máy. Tôi quản lý ebook bằng calibre.
Một số đầu sách được đánh giá cao gần đây của họ bao gồm The Book of Disquiet của Fernando Pessoa (ấn bản hoàn chỉnh đầu tiên, do Margaret Jull Costa dịch, sắp xếp theo trình tự thời gian toàn bộ tác phẩm của Pessoa), Homesickness của Colin Barrett (giải thưởng lớn Ireland 2022), The Prank của Siniša Glavašević (nhật ký chiến tranh Croatia), hay Our Share of Night của Mariana Enríquez (kinh dị gothic Mỹ Latinh với nhiều yếu tố huyền bí như medium, linh hồn, nghi lễ ăn nạn nhân sống).
Những tác phẩm này không hề dễ đọc. Our Share of Night nặng như pho từ điển, tôi đọc mãi chưa xong (một phần vì không tiện để mang đi du lịch). Nhưng những ai theo dõi nhà xuất bản này đều biết chúng được chọn vì đại diện cho tiếng nói vùng biên: văn học đương đại đến từ những vùng đất xa xôi, khó thâm nhập.
Trong thời đại thừa thãi sách vở, minh bạch là sợi dây kết nối niềm tin giữa người làm sách và độc giả. Minh bạch ở đây, có thể nói dễ hiểu là việc công khai lựa chọn: mỗi cuốn sách dịch nên có thông điệp riêng về hành trình chọn tác phẩm, các suy tư dịch thuật, và lý do đáng để dành cho người đọc hôm nay.5 Khi mỗi cuốn sách mang theo câu chuyện chọn lựa rõ ràng, nó bắn một tín hiệu, một lời mời gọi suy tư và đối thoại rất cụ thể (sách là một thứ vật chất cần người đọc chạm vào), đồng thời, cũng là một lối đi riêng giúp nhà làm sách thoát khỏi vòng xoáy sản xuất vô hồn.
p/s: một phần bài viết trên được gõ trên điện thoại realme C85 5,5 củ.
Cả sách và phim dựa trên sự kiện lịch sử có thật ở triều đình Đan Mạch thế kỷ 18, xoay quanh mối tình vụng trộm giữa Nữ hoàng Caroline Mathilde (em gái vua George III của Anh) và bác sĩ hoàng gia Johann Friedrich Struensee, trong khi vua Christian VII bị bệnh tâm thần.
Loài cá Kolbert viết trong chương này thường được gọi là Asian carp (cá chép châu Á). Đây không phải chỉ một loài đơn lẻ mà là một nhóm gồm bốn loài cá chép du nhập chính: bighead carp (Hypophthalmichthys nobilis), silver carp (Hypophthalmichthys molitrix), grass carp (Ctenopharyngodon idella), và black carp (Mylopharyngodon piceus).
Collection Blanche của Gallimard là bộ sưu tập văn học Pháp từ năm 1911, nổi bật với bìa kem đặc trưng, từng giành nhiều giải lớn như Goncourt, Femina. Tủ này có nhiều tác phẩm nổi tiếng như L'Étranger của Albert Camus, Les Particules élémentaires của Michel Houellebecq, La Nausée của Jean-Paul Sartre.
Cuốn sách được mong đợi sẽ đoạt Prix Goncourt nhưng cuối cùng không thắng, và Prix Novembre được trao như một sự công nhận thay thế.
Khác với người dịch, nhà làm sách kiểu cũ thường có lời giới thiệu huyên thuyên và bố đời, lúc nào tôi chụp lại.




