Thật không khó để nhận ra, mỗi khi có người đàn ông biến mất, một điều kỳ lạ nào đó đang xảy ra. Họ biến mất, còn những con người khác phải thất thần, há hốc mồm và hoàn toàn không hiểu. Nhưng hẳn phải có một sự chuyển dịch nguồn lực xã hội nào đó (từ việc người đàn ông biến mất), từ chỗ ách tắc về chỗ thông.
Từ Medea bị Jason ruồng bỏ trong kịch Euripides đến Gervaise của Zola hay Sophie của Huysmans, một mô-típ cổ xưa cứ trở đi trở lại, nhưng mỗi thời đại lại khiến nó mang một ý nghĩa khác, và sức mạnh bi kịch của mô-típ ấy cũng theo đó mà thay đổi. Nếu ở bi kịch Hy Lạp, người phụ nữ bị bỏ rơi đối diện với sự sụp đổ của lời thề, danh dự và oikos (nhà và gia sản), thì đến thế kỷ XIX, bi kịch ấy đã trở nên trần trụi và vật chất hơn: tiền thuê nhà, miếng ăn, manh áo, con cái, quyền thừa kế, tư cách pháp lý.
Song thời nào cũng vậy, ngay cả ở một xã hội vận hành có vẻ đúng quy củ, chỉ cần người đàn ông biến mất, cả một hệ thống nằm phía sau lập tức hiện hình. Ta có ngay một stress test cho xã hội. Những bất bình đẳng có thể được che phủ bởi các nhãn dán địa vị và đời sống xã hội-gia đình làm ra vẻ lớp lang; nhưng khi người đàn ông biến mất, toàn bộ hạ tầng quyền lực bên dưới những quan hệ ấy lập tức lộ ra: ai sở hữu tài sản, ai có tư cách pháp lý, và nhất là, ai có khả năng tiếp tục sống một cách độc lập.
Vì thế, một mô-típ cũ (người phụ nữ bị ruồng rẫy, như Medea, Dido, Ariadne…) trở thành công cụ tốt để người đọc thời nay khám phá ra không ít những nghịch lý, những tia sáng trong sự bẽ bàng. Các bi kịch đều là hậu quả của những thiết chế công cộng: luật pháp, tài sản, thị trường lao động, giai cấp. Mô-típ cũ này trở nên đặc biệt hiện đại khi người phụ nữ bị bỏ rơi không còn là bi kịch của tình yêu hay danh dự; những bất công của họ còn phơi bày sự mong manh về kinh tế, pháp lý và xã hội của những thân phận yếu thế.
Quán rượu - Émile Zola
Hôm bữa tôi vừa đọc xong Quán rượu của Émile Zola. Quán rượu, tức l’Assommoir, là cuốn thứ bảy trong bộ Dòng họ Rougon-Macquart kéo dài đến 20 cuốn. Cả bộ xoay quanh 5 thế hệ trong gia tộc này, rẽ ra hai nhánh: nhánh Rougon và nhánh Macquart. (Gia tộc này rẽ ra hai nhánh vì Adélaïde Fouque, tổ mẫu của dòng họ, có con với hai người đàn ông: một người chồng hợp pháp là Rougon, bà sinh Pierre Rougon, khởi đầu nhánh Rougon tương đối giàu có/tư sản; sau khi chồng chết, bà sống với Macquart, một người buôn lậu nghèo khó, và sinh Antoine và Ursule Macquart, khởi đầu nhánh Macquart thuộc tầng lớp bình dân.)
Phải nói dài dòng thế vì cái gọi là chủ nghĩa tự nhiên của Zola (theo cách hiểu phiến diện của nhiều học giả sau này về naturalism) liên quan mật thiết đến hai nhánh của gia tộc này.
Rồi, Quán rượu kể về Gervaise (đọc là Giẹc-ve), một thợ giặt là thuộc tầng lớp lao động nghèo ở Paris dưới thời Đế chính thứ hai, từ lúc chị mười tám đôi mươi đến lúc cuối đời. Gervaise thuộc nhánh Macquart, tức nhánh nghèo và bất ổn của dòng họ; cô cũng là mẹ của các nhân vật khó quên khác của Zola trong cùng bộ: ba người con trai Claude Lantier (L’Œuvre), Étienne Lantier (Germinal, hay Nảy mầm), Jacques Lantier (La Bête humaine) và người con gái Nana (cuốn cùng tên, Nana). Vì lẽ như vậy nên Quán rượu giữ vị trí gần như một nút trung tâm của gia phả: bi kịch của Gervaise rồi sẽ được Zola tiếp tục triển khai qua số phận rất khác nhau của các người con cô trong những cuốn tiểu thuyết khác.
Tôi sẽ không nói nhiều về cốt truyện vì cuốn này đọc rất cuốn, cuộc đời các nhân vật rất lâm li bi đát, nên không có lý do gì tôi để một bạn đọc khác vắng đi một trải nghiệm đọc một cuốn sách hay từ đầu đến cuối.


Tôi chỉ giới thiệu bối cảnh mở đầu câu chuyện: Gervaise là thợ giặt là, từ tỉnh lên Paris với thằng bồ (chính là Lantier mà cô có con cùng), cùng với khát vọng đổi đời; nhưng ở Paris chưa được mấy bữa thì cô bị bồ đá. Thằng bồ vốn tính mồm mép, bỏ cô để đi theo con khác ngon hơn, tung tẩy hơn, và cũng để trốn khỏi cuộc sống lao động thường nhật, khỏi một không gian chật hẹp của phòng trọ cùng những đứa con thơ léo nhéo.
Phụ nữ bị chồng hay người yêu ruồng rẫy là mô-típ không mới, nhưng vấn đề sau đó — cô ta làm gì sau khi bị ruồng bỏ, họ đối ứng cuộc đời như thế nào và sẽ trở thành ra sao, lại là nguồn cơn của biết bao nhiêu tiểu thuyết, kịch nghệ (có những câu hỏi tưởng như không liên quan nhưng lại rất liên quan; quan trọng là hãy biết đặt câu hỏi). Một trong những tác phẩm kinh điển nhất, éo le nhất, lại là từ Hy Lạp cổ đại: Medea của Euripides.
Medea - Euripides
Trong Medea, Jason bỏ Medea để cưới con gái vua Creon (vua xứ Corinth). Nhưng trước thời điểm đó (trước khi câu chuyện bắt đầu), có một mối bung xung khiến cho bi kịch trở nên dồn dập ngay từ những thời khắc đầu tiên: Medea có phép phù thủy và đã từng nhiều lần làm ơn cho thằng bồ. Theo thần thoại: Medea rời Colchis cùng Jason sau khi đã giúp Jason lấy bộ lông cừu vàng. Để đi theo Jason, nàng cắt đứt gần như toàn bộ quan hệ với gia đình mình: nàng phản bội cha là vua gì-đó (không nhớ), giúp Jason trốn thoát, và để Jason thoát hẳn, nàng còn giết em trai mình là Apsyrtus. Vì thế Medea không thể đơn giản là quay về nhà sau khi Jason phản bội nàng. Ở đây ít nhất có hai lý do:
Nàng là kẻ bị săn đón, ngay cả ở quê nhà. Bản thân nàng là sát thủ, đã hạ sát không ít người (trong đó có em trai), khí chất lạnh lùng, đòn ra tay thâm độc;
Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì sau khi bị Jason đá, nàng nghiễm nhiên bị tước visa (vì visa của nàng là diện theo chồng.) Medea ngoài việc bị người tình phản bội, nàng còn đùng một cái rơi vào tình trạng mất địa vị xã hội: nàng là người ngoại quốc, không có người thân ở Corinth, và có con với Jason (hai người con này chính là trọng tâm trong kế hoạch trả thù tàn khốc của Medea).
Khi hai người đến Corinth, Jason về cơ bản là nguồn bảo đảm xã hội của Medea. Trong xã hội Hy Lạp cổ, địa vị của phụ nữ thường gắn chặt với gia đình và dòng dõi thân tộc của người nam. Chính vì thế nên cú quay xe bất ngờ của Jason (nghe tên là thấy đểu rồi) là vô cùng bẩn dưới cách nhìn của Medea:
nàng rời bỏ quê hương vì thằng bồ,
sống giữa những người xa lạ,
không có mẹ, anh em trai, hay họ hàng để nương tựa,
và giờ lại bị chính thằng bồ đẩy nàng vào hoàn cảnh bơ bất.
Và Euripides xát thêm tí muối làm nghịch lý này rất cay: Medea đã hy sinh quê hương và gia đình để giúp Jason; đến Corinth, Jason lại dùng sự cô lập đó để biện minh cho việc bỏ nàng, với lý lẽ rằng nàng đã được hưởng lợi vì được đưa từ một vùng “man di” tới Hy Lạp văn minh (xứ Colchis là vùng đất ở bờ đông Biển Đen).

Một ngày thôi, thưa đức vua!
Tóm lại, Medea không thể trở về quê nhà Colchis (nơi nàng đã mang tội phản quốc), cũng không có người thân hay sự bảo hộ nào trên đất Hy Lạp. (Việc đẩy con gái nhà người ta đến cảnh cù bơ cù bất cũng là mô-típ được triển khai bởi một naturalist thế kỷ XIX là Huysmans trong novella Un dilemme.) Lo sợ Medea (một nữ phù thủy tinh quái và đầy hận thù) sẽ gây hại cho con gái và triều đại của mình, vua Creon đã trực tiếp đến gặp và ra lệnh trục xuất (cắt visa) nàng khỏi Corinth ngay lập tức.
Sau đó, Medea buộc phải hạ mình trước vua Creon xứ Corinth (tức bố của tiểu tam) để “xin gia hạn visa” trong 24 giờ. Nàng tỏ ra đáng thương, thừa nhận vị thế yếu ớt của một phụ nữ ngoại quốc visa hết hiệu lực, và khẳng định mình không hề có ý định trả thù hay gây nguy hiểm cho nhà vua hay bất cứ ai.
Ồ, ta sẽ nghĩ là đằng nào cũng gặp Sở Ngoại Kiều xin gia hạn, sao không xin 6 tháng luôn? Nhưng 24 giờ là cách mà bi kịch Hy Lạp (bố của các thể loại thriller) tạo nên sức nén lò xo. Medea van xin Creon cho nàng ở lại thêm đúng một ngày với lý do duy nhất: để gói ghém đồ đạc (ta hay gọi là pack đồ) và tìm chỗ trú cho hai đứa con nhỏ dại, dầu sao chúng cũng là những đứa trẻ mang dòng máu xứ Corinth. Vua Creon, mủi lòng trước tình mẫu tử đã chấp thuận cho nàng ở lại thêm 24 giờ. Và đây… chính là sai lầm chết người của Creon (nói gì nói, mấy vị vua về gia thường hay chơi quân tử.)
Chỉ cần 24 giờ ấy, Euripides cho thấy một con người bị dồn đến đường cùng có thể đi xa đến mức nào (một phụ nữ bị đẩy đến đường cùng, ta đã có nhân vật chị Dậu). Từ đây, Medea tăng tốc như một cỗ máy bi kịch đã lên dây cót: mỗi lời nói, từng cuộc gặp, mỗi một toan tính đều kéo các nhân vật gần hơn đến điểm không thể quay đầu. Medea đáng thương hay đáng sợ, là nạn nhân hay thủ phạm, yêu quá lụy hay mang niềm kiêu hãnh quá lớn? Ta biết trước rằng mình sẽ không có một câu trả lời dễ chịu. Đó cũng là lý do sau gần 2.500 năm người ta vẫn còn tranh cãi về nàng. Còn chuyện nàng làm gì với 24 giờ được Creon ban cho thì… để dành cho các bạn đọc (sách rất ngắn), tôi sẽ không spoil tiếp.
Quay lại tí về mấy bản dịch Zola
Đã định không lèm bèm về bản dịch của các cụ hồi xưa (tôi luôn ủng hộ việc dịch mới, dịch lại, cũng như liên tục làm mới ngôn ngữ và minh bạch quá trình chọn sách — đồng thời, tôi không cổ xúy việc hiệu đính), nhưng có một hiện tượng mà mãi tôi vẫn chưa giải nghĩa được: các cụ dịch giả ngày xưa viết lời giới thiệu như hiệu triệu, lên gân cốt rất kinh — không phải kiểu tém tém như thời nay, rằng “quan điểm trong sách thuộc về tác giả, chúng tôi không hoàn toàn đồng ý”, mà là nâng quan điểm tác giả từ không có cũng thành có, để đặt chỗ đứng của mình (người dịch).
Lấy ví dụ:
[…] đó là sự phát triển mãnh liệt của khoa học tự nhiên, đặc biệt là của sinh vật học và sinh lý học, trên cơ sở đó xuất hiện chủ nghĩa thực chúng của Auguste Comte, học thuyết về di truyền và đào thải tự nhiên của Darwin, tất cả tạo nên khuynh hướng coi trọng những yếu tố sinh vật, yếu tố di truyền và coi nhẹ những yếu tố xã hội trong sự hình thành tâm lý con người. Chính trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học đã đi vào con đường suy thoái kể từ Gustave Flaubert, và với Émile Zola, nó chuyển mình thành chủ nghĩa tự nhiên. Vì vậy những đặc điểm của chủ nghĩa tự nhiên là:
1. Thái độ khách quan chủ nghĩa, phi chính trị đối với thế giới, mượn cớ tôn trọng chân lý khoa học.
2. Giải thích những sự kiện xã hội theo quan điểm sinh vật học và đi tới một thứ chủ nghĩa định mệnh sinh lý.
3. Rời bỏ hình ảnh điển hình của thực tại để đi tới một thứ chụp ảnh những hiện tượng cá biệt.
Tựu trung, có thể xem chủ nghĩa tự nhiên như một biến tướng (sic!) của chủ nghĩa hiện thực, khi nhà văn mất lý tưởng xã hội và không còn nhìn thấy viễn ảnh xã hội, do đó mất khả năng khái quát hóa, bị chìm ngập vào chi tiết, sự kiện vụn vặt chỉ nhìn thấy cây mà không nhìn thấy rừng. Và chủ nghĩa tự nhiên sẽ áp dụng đơn thuần những quy luật tiến hóa của thế giới động vật vào xã hội con người, cuộc đấu tranh để sinh tồn được xem như quy luật vĩnh cửu của cuộc sống.
[…]
Đã đành, trong nhiều cuốn tiểu thuyết của Émile Zola, dễ dàng nhận ra những yếu tố tự nhiên chủ nghĩa; chẳng hạn như sự sùng bái sự kiện và mối quan tâm trình bày sự kiện một cách khác quan, hay như ảnh hưởng của những học thuyết về di truyền và đấu tranh sinh tồn khiến nhà văn có phần mô tả con người như những nạn nhân thụ động thảm hại của sinh lý, của di truyền, hay của những bản năng sinh vật, đặc biệt là bản năng sinh dục. Và, không phải nhiều khi người đọc không cảm thấy bực bội vì sự ám ảnh của những chi tiết tự nhiên chủ nghĩa loại đó, đi đôi với sự kiên cường trong vận dụng những lý thuyết sinh vật học đã nói ở trên để mô tả xã hội và con người.
Trên đây là vài đoạn trong lời giới thiệu của Trọng Đức cho cuốn Hiệu hạnh phúc các bà (dịch năm 1983). Trọng Đức là bút danh của Đỗ Đức Dục; ông vốn là chính khách, từng làm lên chức rất cao ở Đảng Dân Chủ.
Ta cần làm rõ một chút sự đối nghịch về ý hệ. Naturalism của Émile Zola (và sau đó, một phần của Huysmans) chịu ảnh hưởng từ sinh lý học và di truyền học thế kỷ XIX. Trong bộ Rougon-Macquart, tâm tính và đường hướng phát triển của con người thường được biểu hiện bằng sự tương tác giữa di truyền (chẳng hạn như nhánh Macquart thì nghèo hèn dễ sinh ra nát rượu) + milieu (môi trường). Nghèo đói, dục vọng, bệnh tật thể hiện ra như những lực gần như tất định chi phối cá nhân (quan điểm tất định luận). Trong khi đó, quan điểm Mác-xít tuy cũng đề cao sức mạnh của điều kiện vật chất, nhưng không phải theo nghĩa con người là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh; ngược lại, con người hoàn toàn có thể thay đổi số phận. Quan hệ sản xuất và đấu tranh giai cấp đều mang tính lịch sử, do đó có thể được thay đổi bằng hành động tập thể.
Trong những Lời giới thiệu thuộc format trên, ta sẽ bắt gặp không thiếu những từ đả phá, hay mạt sát như: “suy thoái”, “mượn cớ”, “biến tướng”, “bị chìm ngập vào chi tiết […] vụn vặt”, “đã đành”, “bực bội”, “ám ảnh”… Ủa, vậy ông dịch làm gì? Nó làm người đọc thời nay (là tôi) chưa gì đã muốn dẹp quách cuốn sách và tìm nguyên bản hay bản dịch tiếng Anh đọc cho xong.
Cũng cần nói thêm, tôi chưa đọc bản dịch của Trọng Đức, nhưng Quán rượu bản dịch của Hoàng Lâm thì thực sự hay — tôi dùng bản NXB Văn nghệ TP.HCM năm 2000. Lời giới thiệu trong cuốn này cũng khác hẳn, người dịch dùng từ “văn hào Zola”, rồi “Là một tài năng xuất sắc của những khối mâu thuẫn lớn, Émile Zola xứng đáng được đánh giá cao.”
Phải chăng Zola đã “bịa” ra thêm nhân vật Jacques?
Chỉ một chỗ lấn cấn: trong bản dịch của Hoàng Lâm, có một chú thích tôi cho là hơi ngô nghê, khi nói về hai đứa con của Gervaise:
Chú thích [2]: Trong tác phẩm này, Gervaise chỉ có hai đứa con trai là Claude và Étienne. Không rõ vì lý do gì, về sau, trong tác phẩm “Máu Thú, Mặt Người” (La bête humaine), Zola sẽ bịa thêm một đứa nữa, tên là Jacques.
Bộ Dòng họ Rougon-Macquart còn có tiêu đề là “Histoire naturelle et sociale d’une famille sous le Second Empire” (Lịch sử tự nhiên và xã hội của một gia đình dưới thời Đế chính thứ hai), mà thời Đệ nhị đế chế này chỉ tồn tại rất ngắn (1852-1870). Zola viết cuốn đầu tiên, Thời vận gia đình Rougon, năm 1871; cuốn sau cùng Bác sĩ Pascal năm 1893; nhưng thật ra cuốn kết lại cả cycle này là La Débâcle (Đoạn trường), cuốn thứ mười chín tức áp chót trong bộ, một cuốn tiểu thuyết chiến tranh huy hoàng và bi tráng về cuộc chiến Pháp-Phổ (trận Sedan) và Công xã Paris, khép lại thời đế chính; tức là cả bộ mở ra bằng máu (cuộc đảo chính năm 1851), mà khép lại cũng bằng máu.
Nên khổ quá, có thể diễn đạt theo cách nào khác, ngoài việc phải nghĩ là Zola bịa ra thêm một nhân vật không. Tôi đã đọc ở đâu đó, hình như là trong lời giới thiệu cho La bête humain (bản dịch cũ của Penguin Classics), về việc Zola sau này phải cho thêm nhân vật Jacques là lựa chọn có chủ ý.
Ban đầu, khi viết Quán rượu, tác giả cho Gervaise Macquart có hai người con trai với Lantier là Claude (về sau trở thành họa sĩ bất đắc chí trong L'Œuvre) và Étienne (sau trở thành nhà hoạt động cách mạng trong Germinal). Rồi sau đó Zola đã phải sáng tác thêm một người con trai thứ ba của Gervaise là Jacques vì vài lý do kỹ thuật. Một lý do chính là hai người con của Gervaise đã được dùng kiệt rồi. Ta biết rằng trong hai nhánh thì dòng họ Macquart di truyền những thói xấu như nghiện rượu, điên loạn và bạo lực từ người bà Adélaïde Fouque.
Mỗi người con của Gervaise đại diện cho một cách mà “dòng máu độc” này phát tác:
Claude: Sự điên loạn phát tiết thành nghệ thuật/sáng tạo (mê muội hội họa đến mức tự sát).
Étienne: Sự cuồng nhiệt phát tiết thành lý tưởng chính trị (sự sục sôi của lý tưởng cách mạng và đấu tranh giai cấp).
Jacques: Zola cần một nhân vật thể hiện mặt tối tăm, bản năng và tàn bạo của “dòng máu độc” này. Sự điên loạn ở Jacques bị phát tiết thành dục vọng chém giết.
Nên nếu không có Jacques, bức tranh về sự tha hóa của dòng họ Macquart sẽ thiếu đi mảng tối tàn khốc.
Lý do thứ hai là về mặt logic: bị vướng tuổi tác. Khi Zola bắt đầu phác thảo toàn bộ hệ thống 20 tập, ông nhận ra dòng thời gian và tuổi tác của các nhân vật có sự chênh lệch. Việc chèn thêm Jacques vào giữa Claude và Étienne giúp ông dễ dàng sắp xếp tuổi tác của nhân vật phù hợp với bối cảnh của thời Đế chính thứ hai, mà như đã nói, cả cycle mở ra bằng máu và khép lại cũng bằng máu.
Cuốn La Bête Humaine (Máu thú, mặt người) lấy bối cảnh ngành đường sắt phát triển bùng nổ vào khoảng năm 1869-1870. Lúc này, tác giả cần một nhân vật chính phải là một kỹ sư lái tàu lành nghề (tức phải khoảng 25-26 tuổi). Người anh cả Claude (sinh tầm 1844) thì đã có số phận gắn liền với giới nghệ sĩ Paris. Người em Étienne (sinh khoảng 1846) hơi trẻ, và thời điểm đó đang bận đi làm thợ mỏ và lãnh đạo đình công trong Germinal (1866-1867), nên không thể từ thợ mỏ mà chuyển sang lái tàu lành nghề chỉ trong hai năm được (năm 1869).
Giải thích kỹ như thế để thấy rằng việc nói Zola “bịa” thêm một nhân vật là phớt lờ quá đáng những cái khó kỹ thuật trong cả công trình của tác giả. Cũng cần nói thêm là các tập tiểu thuyết này được viết theo dạng phơi-ơ-tông, tức là đăng thường kỳ trên báo, trước khi được gom lại ấn hành như một bản hoàn chỉnh.
Un dilemme - Joris-Karl Huysmans
Joris-Karl Huysmans khởi đầu là một nhà văn tự nhiên chủ nghĩa như Zola, trung thành dưới sự dẫn dắt của Zola, nhưng ông nhanh chóng ly khai để chuyển sang chủ nghĩa Vị mỹ (Aestheticism) và Suy đồi (Decadence). Trong khi điểm nhấn của Zola là tập trung miêu tả hiện thực xã hội1, quy luật di truyền và động lực sinh học của đám đông, Huysmans lại đi sâu vào tâm lý cá nhân dị biệt, sự suy tàn của đời sống tinh thần (đây là điểm về sau này Michel Houellebecq chịu ảnh hưởng rất lớn).
Huysmans nổi tiếng nhất là À rebours (Ngược dòng); tôi chưa đọc nên không có gì để nói cả.
Un dilemme (1887) là một novella, quan sát đời sống tiểu tư sản, tiền bạc, luật pháp và sự đạo đức giả của xã hội Paris (nơi ngập đầy thói xấu tư sản). Truyện mở đầu tại nhà ông Maître Le Ponsart2, một công chứng viên tỉnh lẻ béo tốt, tự mãn và được công chúng cho là “đàng hoàng”. Huysmans dành khá nhiều thời gian mô tả căn phòng, đồ ăn, đồ đạc và những thú vui nhỏ nhặt của ông ta — đúng kiểu naturalism: đồ vật và không gian sống gần như là bản lý lịch tinh thần của nhân vật. Đây là lý do mà Trọng Đức bảo “không phải nhiều khi người đọc không cảm thấy bực bội vì sự ám ảnh của những chi tiết tự nhiên chủ nghĩa loại đó”; cách đi sâu vào tiểu tiết như vậy quả thực không hợp với những ai sợ không gian hẹp.
Trong lúc Le Ponsart đang hưởng thụ cuộc sống yên ổn ấy, ông nhận được tin Jules Lambois, cháu ngoại mình đang sống ở Paris, vừa đột ngột qua đời. Le Ponsart lên Paris để thu xếp hậu sự và tài sản. Nhưng đến căn hộ của Jules, ông phát hiện một chuyện gia đình không hề biết: Jules đã sống cùng một cô gái trẻ tên Sophie Mouveau đang mang thai, và quan hệ giữa cô với Jules rõ ràng không đơn thuần là chủ-người tớ gái như gia đình này lầm tưởng. Và câu chuyện từ đây bắt đầu gom lại từ từ một khối bất công dồn nén khi mà ông công chứng viên (ông ngoại) và bố của Lambois tìm cách ruồng rẫy Sophie, đẩy cô và đứa con chưa ra đời ra đường, không nơi nương tựa.
Huysmans dựng một tình huống gần với Medea mà ta vừa nhắc đến, nhưng naturalist-hóa diễn biến và định mệnh. Một phụ nữ (Sophie) có con với một người đàn ông (Jules), cô ta không có địa vị xã hội vững chắc, rồi đột nhiên mất người đàn ông vốn bảo đảm vị trí của mình (anh này tuy địa vị cao nhưng yêu cô này thật, nhưng rồi đùng một cái, chết rất bất thường). Trong Un dilemme thì không có vua chúa, lời nguyền, phù thủy hay thần linh nào cả. Bi kịch được quyết định bởi những thứ tầm thường hơn nhiều: tiền, giấy tờ, hôn nhân, thừa kế, tiền công chăm sóc người ốm, địa vị pháp lý.
Và Sophie cũng rất khác Medea. Medea là một nhân vật có năng lực ngôn từ và ý chí khủng khiếp, có thể tranh luận ngang hàng với vua Creon. Sophie gần như không có thứ quyền lực ngôn ngữ ấy. Những người đàn ông đứng trước cô có tiền, địa vị, kiến thức pháp luật và quyền định nghĩa cô là ai. Tuy nhiên, nếu đã đọc Quán rượu, ta có thể thấy một điểm chung đáng chú ý: cả Zola lẫn Huysmans đều đặt người phụ nữ nghèo vào tình huống mà quan hệ tình cảm riêng tư bỗng biến thành một vấn đề kinh tế ngay khi người đàn ông biến mất.
Đọc Zola và Huysmans, ta thấy, rất dễ dàng con người có thể bị nghiền nát bởi những thứ hết sức tầm thường như tiền thuê nhà, rượu chè điếu đóm, công việc, giấy tờ, luật thừa kế, một cuộc tình không được pháp luật công nhận. Chỉ cần mấy con người “đàng hoàng”, một chút lý lẽ pháp luật và một xã hội vận hành hoàn toàn đúng quy củ cũng đủ tạo nên sự nhẫn tâm và ác nghiệt. Đó là chỗ mà người ta cần đánh giá lại naturalism của Zola và Huysmans, để bắt gặp, để nhìn ra những câu chuyện, những giằng xé đạo đức vẫn còn rất hiện đại. Ta đừng quá nghĩ cách gán ghép những tác giả ấy vào cái nhãn tất định luận; đôi khi không cần ác quỷ hay định mệnh, đôi khi chính hoàn cảnh, thể chế và những con người hết sức bình thường đã làm công việc của chúng rồi.
Có lẽ giá trị của việc đọc lại nằm ở không gian suy tưởng mà văn chương mở ra: đó là những vùng chưa xác định; cái mới, cái mơ hồ và cả những rạn nứt trong cách chúng ta hiểu con người vẫn được phép tồn tại. Bằng cách dám ở lại với những mâu thuẫn chưa thể giải quyết ấy — ta cho phép được ở trong ta, thậm chí, cái cảm giác về việc chấp nhận nguy cơ thất bại — thì việc lắng nghe, đọc, và đọc lại mới có thể mở ra những con đường mà một hệ thống tư tưởng đã khép kín không còn nhìn thấy.
Ông có khác gì nhà văn hiện thực đâu, mà các nhà Mác-xít gán ghép rồi chê bai dữ vậy! Georg Lukács lại còn đối lập naturalism với chủ nghĩa hiện thực của Balzac hay Tolstoy, cho rằng với chủ nghĩa hiện thực thì số phận cá nhân làm hiện ra những mâu thuẫn lịch sử tổng thể, còn phái Zola thì không làm lộ ra cái tổng thể nào hết!
Maître không phải họ mà chỉ là danh xưng nghề nghiệp trong nghề luật, nghe rất bourgeois.


